TÓM TẮT
Dịch tễ học- Ung thư túi mật (GBC) là một bệnh lý ác tính hiếm gặp nhưng có tỷ lệ tử vong rất cao. Trên toàn thế giới, tỷ lệ mắc GBC có sự khác biệt rõ rệt về mặt địa lý, tỷ lệ thuận với tỷ lệ hiện mắc sỏi mật. Tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo độ tuổi; phụ nữ có tỷ lệ mắc cao gấp 2 đến 6 lần so với nam giới; đồng thời GBC phổ biến ở người da trắng hơn so với người da đen. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
- Đa số (gần 90%) là ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma), mặc dù đôi khi vẫn bắt gặp các loại mô bệnh học khác, bao gồm ung thư biểu mô tuyến vảy hoặc biểu mô tế bào vảy, u thần kinh nội tiết tế bào nhỏ, lymphoma và sarcoma (bảng 2). (Xem ‘Mô bệnh học và cơ chế bệnh sinh phân tử’ ở dưới.)
- Nhiều yếu tố nguy cơ đã được xác định, trong đó phần lớn có điểm chung là tình trạng viêm túi mật mạn tính: bệnh sỏi mật, polyp túi mật và nang đường mật bẩm sinh, bất thường vị trí nối tụy – mật và nhiễm trùng mạn tính. (Xem ‘Các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
- Bệnh nhân GBC giai đoạn xâm lấn sớm thường không có triệu chứng, hoặc có các triệu chứng không điển hình tương tự hoặc do sỏi mật hoặc viêm túi mật gây ra. Việc tình cờ chẩn đoán xác định ung thư qua kết quả xét nghiệm bệnh học sau khi cắt túi mật đơn thuần là hình thức biểu hiện phổ biến nhất của bệnh ở giai đoạn sớm. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Do nhiều bệnh nhân được chẩn đoán trong lúc phẫu thuật khi đang thực hiện cắt túi mật điều trị sỏi mật, một vấn đề quan trọng là cần sàng lọc khả năng đồng mắc GBC ở những bệnh nhân có bệnh lý đường mật có triệu chứng. Siêu âm (US) thường là xét nghiệm ban đầu; tuy nhiên, độ chính xác tổng thể của siêu âm trong việc phân giai đoạn phạm vi tại chỗ và di căn xa của nghi ngờ GBC còn hạn chế. (Xem ‘Bệnh nhân có sỏi mật kèm triệu chứng’ ở dưới.)
Cần thực hiện thêm các chẩn đoán hình ảnh (thường là chẩn đoán hình ảnh cắt lớp như chụp cắt lớp vi tính [CT] hoặc cộng hưởng từ [MRI]/chụp đường mật tụy ngược dòng bằng cộng hưởng từ [MRCP]) đối với những bệnh nhân có dấu hiệu nghi ngờ trên siêu âm (vôi hóa, khối u lồi vào lòng túi mật, mất ranh giới giữa túi mật và gan, xâm lấn trực tiếp vào gan, polyp túi mật $ge$ 10 mm, hoặc thành túi mật dày mà không do viêm túi mật). Trong trường hợp này, việc đánh giá khả năng có thể phẫu thuật cắt bỏ khối u là yếu tố then chốt. (Xem ‘Chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ’ ở dưới.)
Chẩn đoán hình ảnh cắt lớp cũng được khuyến cáo cho những bệnh nhân được phát hiện tình cờ ung thư túi mật trong quá trình phẫu thuật cắt túi mật đơn thuần. Đối với những trường hợp này, cần có hình ảnh học phù hợp và phân tích mô bệnh học chi tiết để quyết định xem có cần thực hiện phẫu thuật cắt bỏ thêm hay không. (Xem ‘Các dấu hiệu siêu âm nghi ngờ hoặc ung thư túi mật tình cờ phát hiện khi cắt túi mật’ ở dưới.)
Chụp đường mật ít có giá trị đối với bệnh nhân nghi ngờ GBC vì trong hầu hết các trường hợp, túi mật không được quan sát thấy, ngoại trừ các tình huống nghi ngờ GBC đi kèm với vàng da. (Xem ‘Chụp đường mật’ ở dưới.)
Để hoàn tất đánh giá phân giai đoạn, các hướng dẫn dựa trên sự đồng thuận từ nhiều nhóm chuyên gia khuyến cáo nên chụp cắt lớp lồng ngực ở những bệnh nhân có khả năng phẫu thuật cắt bỏ. Các dữ liệu hiện có chưa đủ để đưa ra kết luận chắc chắn về giá trị lâm sàng của chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) hoặc PET/CT tích hợp trong quản lý bệnh nhân GBC. (Xem ‘Hoàn tất đánh giá phân giai đoạn’ ở dưới.)
Các xét nghiệm cận lâm sàng thường không có giá trị chẩn đoán xác định; nồng độ phosphatase kiềm hoặc bilirubin huyết thanh tăng có thể liên quan đến tình trạng tắc đường mật. Các dấu ấn ung thư trong huyết thanh như kháng nguyên carcinoembryonic (CEA) hoặc kháng nguyên carbohydrate 19-9 (CA 19-9) thường tăng cao nhưng không có giá trị chẩn đoán vì thiếu tính đặc hiệu và độ nhạy. Tuy nhiên, nếu một dấu ấn ung thư được tìm thấy là tăng cao trước phẫu thuật, việc xét nghiệm định kỳ sau khi cắt bỏ có thể hỗ trợ chẩn đoán tình trạng bệnh còn tồn tại hoặc tái phát.
Phân giai đoạn- Hệ thống phân giai đoạn khối u, hạch, di căn (TNM) của Ủy ban Hỗn hợp về Ung thư Hoa Kỳ (AJCC) kết hợp với Liên minh Phòng chống Ung thư Quốc tế (UICC) (xem ‘hệ thống phân giai đoạn TNM’ ở dưới) là sơ đồ phân loại được ưu tiên sử dụng tại cả Châu Âu và Hoa Kỳ. (Xem ‘Phân giai đoạn’ ở dưới.)
