TÓM TẮT
- Kích thước và vị trí tuyến giáp
Tuyến giáp bình thường nằm ngay phía dưới thanh quản, bao quanh phần trước bên của khí quản; giới hạn phía trong là khí quản và thực quản, phía ngoài là bao cảnh, phía trước và bên là các cơ ức đòn chũm, cơ ức móng và cơ ức giáp. (Xem ‘Kích thước và vị trí’ ở dưới.) - Củ Zuckerkandl
Củ Zuckerkandl nằm ở mặt sau của mỗi thùy tuyến giáp. Dây thần kinh thanh quản quặt ngược (RLN) thường đi qua mặt sau của củ này, đây là mốc quan trọng giúp phẫu thuật viên tìm và xác định dây thần kinh. (Xem ‘Củ Zuckerkandl’ ở dưới.) - Cung cấp máu
Nguồn cung cấp máu động mạch cho tuyến giáp chủ yếu từ các động mạch giáp trên và giáp dưới phải và trái, lần lượt bắt nguồn từ động mạch cảnh ngoài và thân giáp – cổ. Hệ thống tĩnh mạch dẫn lưu bao gồm các tĩnh mạch giáp trên, tĩnh mạch giáp giữa và tĩnh mạch giáp dưới, đổ vào tĩnh mạch cảnh trong và tĩnh mạch cánh tay đầu (tĩnh mạch vô danh). (Xem ‘Cung cấp máu’ ở dưới.) - Chi phối thần kinh
Phẫu thuật viên có thể sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để hỗ trợ xác định các dây thần kinh, bao gồm quan sát trực tiếp, sử dụng các mốc giải phẫu, sờ nắn và theo dõi thần kinh trong mổ. (Xem ‘Chi phối thần kinh’ ở dưới.) - Dây thần kinh thanh quản trên
Dây thần kinh thanh quản trên gồm nhánh ngoài và nhánh trong. Nhánh ngoài chủ yếu đảm nhiệm chức năng vận động, chi phối cơ constrictor hạ họng và cơ nhẫn giáp. Nhánh trong đảm nhiệm chức năng cảm giác cho thanh quản. (Xem ‘Các dây thần kinh thanh quản trên’ ở dưới.) - Dây thần kinh thanh quản quặt ngược
RLN đảm nhiệm cả chức năng cảm giác và vận động cho thanh quản. Tổn thương RLN có thể dẫn đến yếu hoặc liệt dây thanh âm thật ở vị trí trung gian hoặc lệch bên. Các cơ nội tại của thanh quản, ngoại trừ cơ nhẫn giáp, có thể bị ảnh hưởng, khiến bệnh nhân gặp rối loạn nuốt và có nguy cơ hít sặc. (Xem ‘Tổn thương thần kinh’ ở dưới.) - Dẫn lưu bạch huyết
Vùng dẫn lưu bạch huyết chính của tuyến giáp là khoang trung tâm của cổ. (Xem ‘Dẫn lưu bạch huyết’ ở dưới.)
