TÓM TẮT
Sinh lý bệnhỞ người lớn, nang khoeo thường liên quan đến các bệnh lý khớp nền như thoái hóa khớp, viêm khớp hoặc chấn thương khớp (ví dụ: rách sụn chêm). Nang hình thành do sự giãn rộng của túi hoạt dịch cơ bụng chân – cơ bán màng, nằm giữa hai cơ này ở phía trong hố khoeo, hơi thấp hơn nếp gấp trung tâm ở mặt sau đầu gối. (Xem ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)
Ở trẻ em, nang nguyên phát là dạng thường gặp (hình 1); những nang này phát sinh trực tiếp từ túi hoạt dịch cơ bụng chân – cơ bán màng và không thông với khoang khớp. (Xem ‘Trẻ em’ ở dưới.)
Triệu chứng và thăm khám lâm sàng- Hầu hết các nang có kích thước nhỏ, không triệu chứng và chỉ được phát hiện tình cờ. Các triệu chứng của bệnh lý khớp đi kèm có thể là triệu chứng chính hoặc triệu chứng duy nhất hiện diện.
- Các triệu chứng có khả năng do nang gây ra bao gồm đau mặt sau đầu gối, cứng khớp gối, sờ thấy sưng hoặc một khối ở sau đầu gối.
- Nang thường nổi rõ hơn khi đầu gối ở tư thế duỗi. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Các biến chứng ít gặp nhưng có thể nghiêm trọng bao gồm:
- Giả viêm tĩnh mạch huyết khối (Pseudothrombophlebitis) – một hội chứng có biểu hiện giống với huyết khối tĩnh mạch, bao gồm đau bắp chân, đỏ da, phù nề vùng xa và dấu hiệu Homans dương tính; tình trạng này xảy ra khi nang khoeo giãn lớn, bóc tách và/hoặc vỡ, dẫn đến chèn ép các cấu trúc lân cận.
- Xuất huyết dưới da vùng bắp chân sau, từ hố khoeo xuống đến mắt cá chân có thể xảy ra khi nang vỡ.
- Các biến chứng hiếm gặp khác của nang khoeo bao gồm thiếu máu chi, chèn ép thần kinh và hội chứng khoang. (Xem ‘Nang khoeo biến chứng’ ở dưới.)
Chúng tôi thường chẩn đoán nang khoeo dựa trên thăm khám lâm sàng ở những bệnh nhân có sưng khoeo nhưng không có dấu hiệu hoặc triệu chứng vỡ hay bóc tách nang. Khớp gối được thăm khám khi bệnh nhân nằm ngửa qua một cung vận động từ duỗi hoàn toàn đến ít nhất 90 độ gấp. Khối sưng, thường được sờ thấy ở phía trong hố khoeo và nổi rõ nhất khi duỗi gối hoàn toàn, có thể mềm đi hoặc biến mất khi gấp gối đến 45 độ (dấu hiệu Foucher) do áp lực lên nang được giải tỏa. (Xem ‘Chẩn đoán’ và ‘Thăm khám lâm sàng’ ở dưới.)
Vai trò của chẩn đoán hình ảnh- Ở những bệnh nhân có chẩn đoán không chắc chắn nếu chỉ dựa vào thăm khám, chúng tôi sử dụng siêu âm (hình 1A-C) và X-quang quy ước (hình 3) khớp gối làm các phương pháp chẩn đoán hình ảnh ban đầu.
- Ở bệnh nhân có triệu chứng bắp chân, chúng tôi thực hiện siêu âm để loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT).
- Chúng tôi chỉ định chụp cộng hưởng từ (MRI) khớp gối khi đang xem xét phẫu thuật nhằm xử lý các tổn thương cấu trúc khớp gối hoặc khi chẩn đoán chưa chắc chắn sau khi siêu âm (hình 4). (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt bao gồm DVT nếu có dấu hiệu đau hoặc sưng bắp chân, các khối dạng nang khác như nang thân kinh (ganglia), các khối u đặc như u mỡ (lipomas) và sarcoma mỡ (liposarcomas), và phình động mạch khoeo. Hầu hết các tình trạng này có thể phân biệt với nang khoeo bằng hình ảnh siêu âm; chúng tôi sẽ chỉ định MRI nếu phát hiện các thành phần đặc bên trong nang hoặc khối u trên siêu âm. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Xử trí ban đầuĐối với người lớn, chúng tôi xử trí nang khoeo chủ yếu bằng cách điều trị quá trình bệnh lý nền liên quan đến nang.
Với hầu hết bệnh nhân có triệu chứng khó chịu liên quan đến nang, chúng tôi đề xuất tiêm glucocorticoid nội khớp (Khuyến cáo 2C). Chọc hút nang trực tiếp và tiêm glucocorticoid vào nang là một lựa chọn thay thế phù hợp cho các bệnh nhân có nang lớn, nang không thông với khoang khớp và/hoặc nang phức tạp. Thủ thuật này thường cần có sự hỗ trợ của chẩn đoán hình ảnh. (Xem ‘Xử trí’ và ‘Điều trị ban đầu’ ở dưới.)
Chúng tôi không điều trị các nang khoeo không triệu chứng được phát hiện tình cờ, và trẻ em có nang nguyên phát thường không cần điều trị. (Xem ‘Xử trí’, ‘Điều trị ban đầu’ và ‘Phẫu thuật’ ở dưới.)
Xử trí bổ sung- Những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị ban đầu cần được đánh giá thêm bằng siêu âm và/hoặc MRI nếu trước đó chưa thực hiện.
- Đối với bệnh nhân không đáp ứng với tiêm glucocorticoid nội khớp, chúng tôi đề xuất chọc hút nang dưới hướng dẫn của siêu âm và tiêm glucocorticoid nội khớp (Khuyến cáo 2C).
- Phẫu thuật cắt bỏ thường được dành riêng cho các trường hợp các can thiệp bảo tồn thất bại và khi nang gây ra tình trạng suy giảm chức năng đáng kể.
Hầu hết các nang khoeo không gây triệu chứng hoặc biến chứng. Một số nang tự biến mất mà không cần can thiệp, và đa số đáp ứng với việc điều trị các rối loạn khớp gối đi kèm. Nang thường tái phát ở những bệnh nhân có bệnh lý khớp nền chưa được điều trị thỏa đáng. (Xem ‘Tiên lượng’ ở dưới.)
