TÓM TẮT
Thuốc vận mạch và thuốc tăng sức co bóp cơ tim
Tổng quan
Các liều tiêm bolus và/hoặc truyền tĩnh mạch liên tục các thuốc vận mạch và/hoặc thuốc tăng sức co bóp cơ tim được chỉ định để điều trị hạ huyết áp khi tình trạng này không đáp ứng ngay với việc giảm độ mê và/hoặc bù dịch (bảng 1). (Xem ‘Tổng quan’ ở dưới.)
Các thuốc adrenergic
Các thuốc adrenergic được sử dụng để tăng huyết áp (BP) bao gồm ephedrine (dùng liều bolus), phenylephrine (dùng liều bolus hoặc truyền tĩnh mạch), và các catecholamine nội sinh mạnh hơn là norepinephrine và epinephrine (dùng liều bolus thấp hoặc truyền tĩnh mạch) (bảng 2). (Xem ‘Các thuốc adrenergic’ ở dưới.)
Các thuốc điều trị giãn mạch kháng trị
Vasopressin, được dùng dưới dạng liều bolus thấp hoặc truyền tĩnh mạch, là thuốc thường được sử dụng nhất để điều trị hạ huyết áp kháng trị với các thuốc adrenergic (ví dụ: bệnh nhân giãn mạch do sốc nhiễm khuẩn). Việc truyền các thuốc vận mạch khác như methylene blue, angiotensin II, vitamin C hoặc hydroxycobalamin có thể cần thiết để điều trị tình trạng giãn mạch không đáp ứng với liều cao norepinephrine và/hoặc vasopressin (bảng 5). (Xem ‘Vasopressin’ và ‘Các thuốc khác điều trị giãn mạch kháng trị’ ở dưới.)
Các thuốc tăng sức co bóp cơ tim khác
Việc truyền các thuốc tăng sức co bóp cơ tim khác có thể được sử dụng để hỗ trợ tuần hoàn ở một số bệnh nhân được lựa chọn, nhưng đây không phải là các thuốc vận mạch hàng đầu để điều trị hạ huyết áp trong mổ hoặc các bất thường huyết động khác. Các thuốc này bao gồm các thuốc adrenergic như dopamine, dobutamine và isoproterenol, cùng với các thuốc inodilator (vừa tăng sức co bóp vừa giãn mạch) như milrinone (một chất ức chế phosphodiesterase) và levosimendan (một chất làm tăng nhạy cảm canxi). (Xem ‘Các thuốc tăng sức co bóp cơ tim khác’ và ‘Thuốc inodilator’ ở dưới.)
Thuốc hạ huyết áp
Tổng quan
Các liều tiêm bolus và/hoặc truyền tĩnh mạch liên tục các thuốc hạ huyết áp có thể được chỉ định để điều trị tăng huyết áp (bảng 6) nếu bệnh nhân không đáp ứng đủ với việc tăng nhanh độ mê, sử dụng các thuốc giảm đau hoặc loại bỏ các kích thích gây đau. (Xem ‘Tổng quan’ ở dưới.)
Thuốc chẹn beta
Các thuốc chẹn beta được sử dụng để giảm huyết áp (BP) và/hoặc nhịp tim (HR) bao gồm labetalol và metoprolol (dùng liều bolus), cũng như esmolol (dùng liều bolus hoặc truyền tĩnh mạch). (Xem ‘Thuốc chẹn beta’ ở dưới.)
Thuốc chẹn kênh canxi
Các thuốc chẹn kênh canxi có thể được sử dụng để giảm huyết áp và sức cản mạch hệ thống (SVR) trong trường hợp không có tình trạng nhịp tim nhanh bao gồm nicardipine và clevidipine (dùng liều bolus hoặc truyền tĩnh mạch). (Xem ‘Các thuốc chẹn kênh canxi’ ở dưới.)
Thuốc giãn mạch trực tiếp
Thuốc giãn mạch trực tiếp làm giãn cơ trơn mạch máu để giảm huyết áp bằng cách làm giảm SVR và tiền gánh, thường đi kèm với tình trạng nhịp tim tăng phản xạ. Việc giảm lượng máu tĩnh mạch trở về tim sẽ làm giảm tiền gánh. Các thuốc giãn động mạch trực tiếp bao gồm hydralazine (dùng liều bolus) và nitroprusside (truyền tĩnh mạch), trong khi nitroglycerin chủ yếu là thuốc giãn tĩnh mạch, được dùng dưới dạng liều bolus thấp hoặc truyền tĩnh mạch liên tục. Trong quá trình truyền nitroprusside hoặc nitroglycerin, cần phải đặt catheter động mạch để theo dõi huyết áp liên tục. (Xem ‘Thuốc giãn mạch trực tiếp’ ở dưới.)
Các thuốc hạ huyết áp khác
Các nhóm thuốc khác ít được sử dụng hơn để hạ huyết áp trong phẫu thuật bao gồm truyền dexmedetomidine (một thuốc mê và là chất chủ vận thụ thể alpha2-adrenergic có tác dụng ức chế giao cảm, dùng đường truyền tĩnh mạch), chất chủ vận thụ thể alpha2-adrenergic clonidine, và enalaprilat (chất ức chế enzyme chuyển angiotensin đường tĩnh mạch duy nhất hiện có). (Xem ‘Các thuốc hạ huyết áp khác’ ở dưới.)
