TÓM TẮT
Giới thiệu – Carcinoma nội tiết thần kinh tế bào nhỏ cổ tử cung là một thể hiếm gặp và xâm lấn mạnh của ung thư cổ tử cung, đặc trưng bởi tỷ lệ di căn hạch cao và lan tràn theo đường máu sớm. Human papillomavirus (HPV) được xem là một trong những nguyên nhân gây ra loại ung thư này. (Xem thêm mục ‘Giới thiệu’ và ‘Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
Đánh giá sau chẩn đoán – Trước khi điều trị, bệnh nhân cần được đánh giá để xác định tình trạng di căn xa và loại trừ ung thư phổi tế bào nhỏ nguyên phát. Chẩn đoán hình ảnh não chỉ được chỉ định khi có di căn phổi hoặc xuất hiện các triệu chứng lâm sàng. (Xem thêm mục ‘Đánh giá sau chẩn đoán’ ở dưới.)
Điều trị
- Đối với bệnh nhân ở giai đoạn sớm (giai đoạn I đến IIA theo Liên đoàn Phụ khoa và Sản khoa Quốc tế [FIGO], bảng 2), kích thước khối u ≤4 cm và không có di căn, chúng tôi đề xuất phẫu thuật ban đầu thay vì hóa trị phối hợp gốc platinum (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm mục ‘Vai trò của phẫu thuật’ ở dưới.)
- Đối với tất cả bệnh nhân, bất kể có phẫu thuật hay không, chúng tôi khuyến cáo điều trị hóa trị có hoặc không kết hợp với xạ trị (RT) (Khuyến cáo 1B). Phác đồ hóa trị được áp dụng là cisplatin/etoposide (bảng 4). Với những bệnh nhân có chỉ định xạ trị, hóa trị sẽ được thực hiện đồng thời trong quá trình xạ trị. (Xem thêm mục ‘Hóa trị’ ở dưới.)
- Khác với ung thư phổi tế bào nhỏ, chúng tôi đề xuất không thực hiện xạ trị dự phòng toàn não (PCI) trừ khi nằm trong khuôn khổ một thử nghiệm lâm sàng (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm mục ‘Vai trò của xạ trị dự phòng toàn não’ ở dưới và “Xạ trị dự phòng toàn não cho bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ”.)
Theo dõi sau điều trị – Theo dõi sau điều trị bao gồm đánh giá triệu chứng và khám vùng chậu; chẩn đoán hình ảnh toàn thân định kỳ là hợp lý do nguy cơ tái phát xa cao. (Xem thêm mục ‘Theo dõi sau điều trị’ ở dưới.)
