Nhồi máu tủy sống: Dịch tễ học và nguyên nhân

TÓM TẮT

Dịch tễ học

  • Nhồi máu tủy sống là một tình trạng hiếm gặp, chiếm khoảng 1% các trường hợp đột quỵ. Tình trạng này thường gặp ở người lớn. Tuy nhiên, trẻ em, thậm chí cả trẻ sơ sinh, cũng có thể gặp nhồi máu tủy sống. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Giải phẫu

  • Tủy sống được chia thành bốn vùng dọc: vùng cổ, vùng ngực, vùng thắt lưng và vùng xương cùng (hình 1). Mỗi vùng bao gồm các phân đoạn được đánh số tương ứng với thân đốt sống, nơi các dây thần kinh tủy đi qua lỗ liên hợp. Tại mỗi mức, tủy sống bao gồm chất xám và các bó chất trắng bao quanh, cùng với một cặp rễ trước và rễ sau để tạo thành các dây thần kinh tủy (hình 2). (Xem ‘Giải phẫu tủy sống’ ở dưới.)
  • Tủy sống được cung cấp máu bởi ba mạch máu chính xuất phát từ các động mạch đốt sống ở cổ (hình 3). Có một động mạch tủy trước (ASA) và một cặp động mạch tủy sau (PSAs). Động mạch tủy trước (ASA) cung cấp máu cho 2/3 trước của tủy sống. Trong suốt lộ trình, ASA và các động mạch tủy sau (PSAs) được bổ sung bởi các động mạch rễ. Đoạn tủy ngực đặc biệt phụ thuộc vào sự đóng góp của các động mạch rễ và có thể là vùng có nguy cơ nhồi máu cao nhất. (Xem ‘Giải phẫu mạch máu’ ở dưới.)

Nguyên nhân thường gặp

Nguyên nhân ít gặp hơn

  • Nhồi máu tủy sống cũng có thể là biến chứng của các phẫu thuật không liên quan đến động mạch chủ, cũng như các đợt hạ huyết áp hệ thống trầm trọng, chẳng hạn như trong quá trình ngưng tuần hoàn hô hấp. (Xem ‘Các phẫu thuật không liên quan đến động mạch chủ’ và ‘Hạ huyết áp hệ thống’ ở dưới.)
  • Các nguyên nhân khác gây nhồi máu tủy sống rất đa dạng (bảng 1). Một tỷ lệ lớn các trường hợp nhồi máu tủy sống tự phát không xác định được nguyên nhân; nhiều trường hợp trong số này được cho là thứ phát sau bệnh lý xơ vữa – huyết khối. (Xem ‘Các nguyên nhân khác’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here