TÓM TẮT
Sarcoma mô mềm
- Sarcoma mô mềm (STS) là nhóm khối u ác tính hiếm gặp, xuất phát từ các mô liên kết ở hệ xương và ngoài xương, bao gồm cả hệ thần kinh ngoại biên. Khối u có thể khởi phát từ mô trung mô tại bất kỳ vị trí nào trên cơ thể. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Phẫu thuật cắt bỏ
- Phẫu thuật cắt bỏ khối u nguyên phát là thành phần thiết yếu trong điều trị cho hầu hết bệnh nhân. Nguyên tắc chỉ đạo là cắt bỏ hoàn toàn khối u kèm theo diện cắt mô lành bao quanh, đồng thời tránh cắt phạm vào tổ chức u trong quá trình phẫu thuật. (Xem ‘Phẫu thuật cắt rộng tại chỗ’ ở dưới.)
- Khái niệm “diện cắt đạt yêu cầu” hiện chưa được định nghĩa rõ ràng và có khả năng phụ thuộc vào loại mô. (Xem ‘Diện cắt phẫu thuật’ ở dưới.)
- Phẫu thuật lại (re-resection) được ưu tiên thực hiện nếu có thể đối với bệnh nhân được cắt bỏ STS nguyên phát không hoàn toàn. Với những bệnh nhân không thể thực hiện phẫu thuật lại (do chống chỉ định y khoa hoặc mong muốn bảo tồn chức năng chi thể), xạ trị bổ trợ có thể giúp kiểm soát tại chỗ hiệu quả ở tỷ lệ đáng kể bệnh nhân. (Xem ‘Phẫu thuật ban đầu không đạt yêu cầu’ ở dưới.)
Nạo vét hạch
- Nạo vét hạch vùng chỉ được khuyến cáo khi có bằng chứng lâm sàng hoặc chẩn đoán hình ảnh về di căn hạch vùng, bất kể loại mô bệnh học của khối u. Trong trường hợp không có bằng chứng lâm sàng hoặc hình ảnh học về di căn hạch, chúng tôi không thực hiện nạo vét hạch, ngay cả với một số loại mô bệnh học ở người trưởng thành có nguy cơ di căn hạch cao hơn so với các loại khác (tỷ lệ 11% đến 44% so với 5%; ví dụ: sarcoma hoạt dịch, sarcoma mạch máu, sarcoma cơ vân [RMS], và các phân nhóm sarcoma tế bào biểu mô hoặc tế bào sáng). Vai trò của sinh thiết hạch cửa (SLNB), ngay cả ở bệnh nhân có các phân nhóm nguy cơ cao, vẫn chưa rõ ràng. (Xem ‘Nạo vét hạch’ ở dưới.)
Điều trị bổ trợ
- Phẫu thuật cắt bỏ thường được phối hợp với xạ trị. (Xem ‘Các phương pháp điều trị bổ trợ’ ở dưới.)
Xạ trị
- Kết hợp xạ trị và phẫu thuật giúp kiểm soát tại chỗ tốt hơn so với đơn trị liệu cho hầu hết các loại STS có chỉ định điều trị bổ trợ. Xạ trị bổ trợ mang lại kết quả chức năng và kết quả ung thư học khả quan, giảm nhu cầu cắt cụt chi hoặc phẫu thuật triệt để, đồng thời hạn chế các biến chứng nặng nề và biến dạng cơ thể đi kèm. Xạ trị thường được cân nhắc cho các khối u kích thước lớn hoặc khối u tái phát độ ác tính cao, đặc biệt khi cần bảo tồn chi. Trong những tình huống này, xạ trị thường được lựa chọn kèm theo hoặc không kèm theo hóa trị. Tác giả ưu tiên xạ trị tân bổ trợ hơn xạ trị hậu phẫu do giảm đáng kể tỷ lệ độc tính muộn liên quan đến điều trị. Ngoài ra, phẫu thuật sẽ khó khăn hơn trên nền trường chiếu đã xạ trị trước đó và quá trình lành thương cũng trở nên phức tạp hơn trong trường hợp này.
Hóa trị
- Đối với bệnh nhân STS chi thể có kích thước lớn, tiến triển tại chỗ hoặc tái phát, hóa trị tân bổ trợ có thể được dùng theo đường toàn thân kết hợp với liệu pháp tăng thân nhiệt vùng, hoặc dùng theo đường tại chỗ (động mạch) thông qua các kỹ thuật như truyền thuốc tách biệt chi hoặc tưới máu chi tách biệt. Các phương pháp điều trị này ít được sử dụng tại Hoa Kỳ, nhưng ở những nơi có sẵn, đây là các lựa chọn tiềm năng để bảo tồn chi.
Theo dõi
- Sau điều trị, đối với bệnh nhân giai đoạn II hoặc III, chúng tôi khuyến cáo hỏi bệnh sử, khám lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh ngực mỗi 3 đến 6 tháng trong 2 đến 3 năm đầu, sau đó mỗi 6 tháng trong 2 năm tiếp theo và định kỳ hàng năm sau đó. Sau điều trị giai đoạn I, chúng tôi khuyến cáo hỏi bệnh sử và khám lâm sàng mỗi 3 đến 6 tháng trong 2 năm đầu và hàng năm sau đó. Chẩn đoán hình ảnh định kỳ tại vị trí khối u nguyên phát cũng được chỉ định cho các bệnh nhân có nguy cơ cao. Với bệnh nhân có nguy cơ tái phát tại chỗ cao (như trường hợp diện cắt dương tính hoặc vị trí khối u nguyên phát khó thăm khám), chụp cộng hưởng từ (MRI) được ưu tiên hơn so với chụp cắt lớp vi tính (CT). (Xem ‘Theo dõi sau điều trị’ ở dưới và ‘Tổng quan điều trị đa mô thức cho sarcoma mô mềm nguyên phát ở chi và thân mình bề mặt’, phần về ‘Theo dõi sarcoma sau điều trị’.)
