TÓM TẮT
- Nguyên nhân – Các cơ chế tiềm tàng gây liệt đám rối cánh tay sơ sinh (NBPP) bao gồm căng giãn/kéo giãn, chèn ép, thâm nhiễm và thiếu oxy. Trong đó, căng giãn được xem là cơ chế phổ biến nhất. Tuy nhiên, NBPP vẫn có thể xảy ra ngay cả khi thao tác kéo trục được thực hiện đúng kỹ thuật; việc xuất hiện NBPP sau sinh không đồng nghĩa với việc nhân viên y tế đã áp dụng các lực hoặc thủ thuật gây tổn thương dây thần kinh. Nhiều trường hợp tổn thương đám rối cánh tay không phải do kẹt vai hay do lực tác động quá mức từ phía thầy thuốc. (Xem thêm mục ‘Nguyên nhân và sinh lý bệnh’ ở dưới.)
- Yếu tố nguy cơ – Liệt đám rối cánh tay sơ sinh ít gặp. Yếu tố nguy cơ duy nhất đã được xác lập đối với NBPP là kẹt vai. Hiện chưa có biện pháp nào được chứng minh là có thể dự báo hoặc phòng ngừa NBPP. (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
- Đặc điểm lâm sàng – NBPP có thể chia thành: liệt đám rối cánh tay trên phổ biến, tổn thương rễ C5, C6 và đôi khi là C7 (liệt Erb) và liệt toàn bộ đám rối cánh tay ít gặp hơn, tổn thương tất cả các rễ từ C5 đến T1 (bảng 1).
Liệt trên do tổn thương C5 và C6 biểu hiện bằng việc cánh tay khép, xoay trong và cẳng tay duỗi, trong khi vận động bàn tay và cổ tay vẫn được bảo tồn. Khi rễ C7 cũng bị tổn thương trong liệt trên, sẽ có thêm tình trạng gấp cổ tay và các ngón tay (hình 1). Liệt toàn bộ đám rối cánh tay biểu hiện bằng tình trạng liệt hoàn toàn cánh tay, đôi khi kèm theo hội chứng Horner. (Xem thêm mục ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
- Chẩn đoán – NBPP được chẩn đoán trên lâm sàng khi tình trạng yếu cánh tay lúc sinh phù hợp với phân bố tổn thương của đám rối cánh tay. Trong nhiều trường hợp, việc chẩn đoán khá đơn giản. Các phương pháp hỗ trợ có thể hữu ích cho quyết định điều trị về việc cần phẫu thuật sửa chữa hoặc tái tạo dây thần kinh bao gồm thăm dò điện sinh lý và chẩn đoán hình ảnh. Do những tác động tiềm tàng đến tiên lượng và các vấn đề pháp lý y khoa, các bác sĩ nên cố gắng xác định thời điểm xảy ra tổn thương đám rối cánh tay. (Xem thêm mục ‘Đánh giá và chẩn đoán’ ở dưới.)
- Xử trí – Thường áp dụng một giai đoạn vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu và theo dõi dấu hiệu hồi phục. Can thiệp phẫu thuật được khuyến cáo trong một số trường hợp chọn lọc nếu không có sự hồi phục chức năng sau 3 đến 9 tháng, tuy nhiên hiện chưa có sự đồng thuận về hiệu quả hoặc thời điểm phẫu thuật. Việc chuyển tuyến sớm đến các trung tâm chuyên sâu về quản lý NBPP có thể cải thiện kết quả điều trị. (Xem thêm mục ‘Xử trí’ ở dưới.)
