TÓM TẮT
Phẫu thuật xuyên xương bướm – Đối với những bệnh nhân có u tuyến yên tăng tiết gonadotroph hoặc các u tuyến yên không chức năng lâm sàng khác với kích thước đủ lớn gây ra các triệu chứng thần kinh, chẳng hạn như bất thường thị trường, chúng tôi khuyến cáo phẫu thuật nội soi xuyên xương bướm là liệu pháp điều trị ban đầu (Khuyến cáo 1B).
Phẫu thuật so với theo dõi chờ đợi – Đối với những bệnh nhân có u phát triển ra ngoài hố yên nhưng không có triệu chứng thần kinh, chúng tôi sẽ cùng bệnh nhân thảo luận về nguy cơ của phẫu thuật so với nguy cơ của việc chờ đợi. Ví dụ, một khối u tuyến yên đẩy cao đáng kể giao thoa thị giác rất có khả năng sẽ bắt đầu gây ra các bất thường về thị lực trong vài năm tới, tuy nhiên một số bệnh nhân vẫn chọn chờ đợi cho đến khi điều đó xảy ra. Những bệnh nhân này cần được theo dõi bằng cộng hưởng từ (MRI) và khám thị trường mỗi 6 đến 12 tháng. (Xem ‘Chỉ định’ ở dưới.)
Vấn đề chu phẫu
- Thiếu hụt nội tiết trước phẫu thuật – Các tình trạng thiếu hụt nội tiết do suy giảm chức năng của phần tuyến yên không bị u xâm chiếm cần được điều trị thay thế. Bất kể phương pháp điều trị nào được sử dụng, việc tái đánh giá suốt đời là cần thiết. (Xem ‘Chuẩn bị tiền phẫu’ ở dưới.)
- Liệu pháp Glucocorticoid – Hydrocortisone nên được dùng liều cao trong quá trình phẫu thuật, sau đó giảm dần liều trong vòng vài ngày cho đến khi đạt liều thay thế. (Xem ‘Liệu pháp Glucocorticoid’ ở dưới.)
- SIADH và AVP-D – Đối với những bệnh nhân phẫu thuật, cần theo dõi hàng ngày sau mổ tình trạng thiếu hụt arginine vasopressin (AVP-D) cho đến khi xuất viện và theo dõi hội chứng tiết hormone chống bài niệu không thích hợp (SIADH) sau một tuần.
- Đánh giá sau phẫu thuật – Bốn đến sáu tuần sau khi xuất viện, bệnh nhân cần được đánh giá lại tình trạng suy vỏ thượng thận, suy giáp, suy sinh dục và AVP-D. Ngoài ra, bệnh nhân cần được đánh giá chức năng thị giác và tất cả các chức năng nội tiết khác của phần tuyến yên lành (Sơ đồ 1). (Xem ‘Vấn đề sau phẫu thuật’ và ‘Đánh giá lần đầu sau xuất viện’ ở dưới.)
- U tuyến yên còn sót lại – Nếu chỉ còn một ít hoặc không còn mô u sót lại sau phẫu thuật từ 6 đến 12 tháng, hoặc nếu lượng u còn lại nhiều nhưng không gây đe dọa biến chứng thần kinh, chúng tôi đề xuất theo dõi mô u sót lại bằng MRI. (Xem ‘U tuyến yên còn sót lại’ ở dưới.)
- Xạ trị bổ trợ – Xạ trị thường được chỉ định nếu có lượng u sót lại đáng kể sau phẫu thuật hoặc u tái phát sau mổ. Quyết định xạ trị dựa trên số lượng và vị trí của mô u sót lại trên hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), mức độ xâm lấn của khối u, tuổi tác và tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân. Việc lựa chọn loại hình xạ trị đã được xem xét ở trên. (Xem ‘Lựa chọn loại xạ trị’ và ‘Xạ trị bổ trợ’ ở dưới.)
- Theo dõi dài hạn
Việc theo dõi dài hạn ban đầu nên bao gồm đánh giá mỗi 6 đến 12 tháng để phát hiện sự phát triển của mô u sót lại và đánh giá mức độ đáp ứng của liệu pháp thay thế nội tiết. (Xem ‘Theo dõi dài hạn’ ở dưới.)
Việc đánh giá tái phát u bao gồm đo lường bất kỳ dấu ấn huyết thanh nào tăng trước phẫu thuật và chụp MRI; nếu không có tái phát sau một hoặc hai năm, khoảng cách giữa các lần chụp có thể kéo dài hơn.
Tình trạng tăng tiết nội tiết của u trước phẫu thuật (nếu có) có thể được dùng để theo dõi hiệu quả điều trị.
U tuyến yên đại thể không triệu chứng – Đối với các u tuyến yên đại thể không gây triệu chứng thị giác, chúng tôi đề xuất theo dõi hàng năm chức năng tuyến yên và kích thước khối u (MRI). (Xem ‘U tuyến yên không triệu chứng’ ở dưới.)
Khối u xâm lấn – Mặc dù hầu hết các u tuyến yên không chức năng lâm sàng gây triệu chứng đều đáp ứng tốt với phẫu thuật đơn thuần hoặc phẫu thuật kết hợp xạ trị, một số ít trường hợp u tiến triển rất nhanh và xâm lấn. Những trường hợp này cần hội chẩn với chuyên gia ung thư để xem xét chỉ định hóa trị. (Xem ‘Khối u xâm lấn’ ở dưới.)
