TÓM TẮT
- Vi sinh vật học
Scedosporium và Lomentospora là các loại nấm sợi phổ biến trong môi trường. Hai tác nhân gây bệnh chính ở người thuộc chi này là Scedosporium apiospermum và Lomentospora prolificans. (Xem ‘Tổng quan’ ở dưới.) - Thử nghiệm tính nhạy cảm
Chúng tôi thực hiện thử nghiệm tính nhạy cảm với các chủng phân lập lâm sàng từ tất cả bệnh nhân nhiễm Scedosporium hoặc Lomentospora. (Xem ‘Thử nghiệm tính nhạy cảm’ ở dưới.) - Lựa chọn thuốc kháng nấm
Nên bắt đầu liệu pháp kháng nấm càng sớm càng tốt đối với tình trạng nhiễm Scedosporium hoặc Lomentospora.
Để điều trị kinh nghiệm nhiễm S. apiospermum, chúng tôi đề xuất đơn trị liệu bằng voriconazole (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Scedosporium apiospermum’ ở dưới.)
L. prolificans kháng hầu hết các thuốc kháng nấm hiện có. Để điều trị kinh nghiệm nhiễm L. prolificans, chúng tôi đề xuất phối hợp voriconazole và terbinafine, có thể kèm hoặc không kèm theo một thuốc nhóm echinocandin (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Lomentospora (trước đây là Scedosporium) prolificans’ ở dưới.)
Phác đồ kháng nấm cần được điều chỉnh dựa trên kết quả thử nghiệm tính nhạy cảm in vitro. (Xem ‘Lựa chọn phác đồ’ ở dưới.)
- Giảm thiểu tình trạng ức chế miễn dịch
Ở những bệnh nhân đang điều trị ức chế miễn dịch (ví dụ: bệnh nhân ghép tế bào tạo máu hoặc ghép tạng đặc), chúng tôi sẽ giảm mức độ ức chế miễn dịch nếu điều kiện cho phép. (Xem ‘Liệu pháp kháng nấm’ ở dưới.) - Tầm quan trọng của việc cắt lọc
Nên thực hiện cắt lọc phẫu thuật khi có thể (tức là khi ổ nhiễm trùng khu trú) vì phương pháp này có liên quan đến việc cải thiện kết quả điều trị. (Xem ‘Cắt lọc phẫu thuật’ ở dưới.) - Vai trò của G-CSF
Ở bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính, có thể cân nhắc sử dụng yếu tố kích thích dòng bạch cầu hạt (G-CSF) để đẩy nhanh quá trình hồi phục bạch cầu trung tính, mặc dù cần có thêm các nghiên cứu để xác định hiệu quả của phương pháp này. (Xem ‘Các liệu pháp điều hòa miễn dịch’ ở dưới.) - Tiên lượng
Nhiễm Scedosporium và Lomentospora có liên quan đến tỷ lệ cao mắc bệnh lan tỏa và tỷ lệ tử vong cao ở bệnh nhân ghép tế bào tạo máu và ghép tạng đặc; tỷ lệ tử vong dao động từ 40% đến 100%. Vị trí nhiễm trùng và tình trạng miễn dịch nền của vật chủ đóng vai trò quan trọng trong đáp ứng điều trị và khả năng sống sót. Thất bại điều trị đặc biệt phổ biến ở bệnh nhân nhiễm L. prolificans. (Xem ‘Tiên lượng’ ở dưới.)
