Viêm đường mật xơ hóa nguyên phát: Bệnh viêm ruột và ung thư đại trực tràng

TÓM TẮT

Bệnh lý viêm ruột trên bệnh nhân viêm đường mật nguyên phát (PSC)

Dịch tễ học

  • Tỷ lệ bệnh lý viêm ruột (IBD) ở bệnh nhân viêm đường mật nguyên phát (PSC) lên tới 90%. Trong đó, viêm loét đại trực tràng chảy máu (UC) chiếm 80%, bệnh Crohn chiếm 10% và viêm đại tràng không phân loại chiếm 10%. (Xem thêm ‘Bệnh lý viêm ruột’ và ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Đặc điểm lâm sàng

  • Viêm đại tràng ở bệnh nhân PSC thường khởi phát ở độ tuổi trẻ hơn so với bệnh nhân mắc IBD đơn thuần. IBD trên bệnh nhân PSC thường có diễn tiến nhẹ hoặc âm thầm. Bệnh nhân thường không có triệu chứng, tuy nhiên trong một số trường hợp hiếm gặp, bệnh nhân có thể có biểu hiện đi ngoài ra máu. (Xem thêm ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)

Đặc điểm nội soi

  • Bệnh nhân PSC có kèm IBD thường bị viêm toàn bộ đại tràng. Ít gặp hơn, tình trạng viêm đại tràng khu trú ở đại tràng phải với trực tràng tương đối bình thường hoặc có tổn thương ở đoạn cuối hồi tràng. Đại tràng cũng có thể hoàn toàn bình thường trên hình ảnh nội soi ngay cả khi đang có tình trạng viêm hoạt động tiềm ẩn. (Xem thêm ‘Đặc điểm nội soi’ ở dưới.)

Chẩn đoán

  • Với tỷ lệ IBD cao ở bệnh nhân PSC, cần thực hiện nội soi đại tràng ngay tại thời điểm chẩn đoán xác định PSC, bất kể bệnh nhân có triệu chứng viêm đại tràng (như đi ngoài ra máu, tiêu chảy) hay không. IBD trong bệnh cảnh PSC không có đặc điểm nội soi hay mô bệnh học đặc hiệu nào. Chẩn đoán cần dựa trên bằng chứng viêm đại tràng, các biến đổi mạn tính trên sinh thiết và loại trừ các nguyên nhân gây viêm đại tràng khác. (Xem thêm ‘Chẩn đoán’ và ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

Ung thư đại trực tràng ở bệnh nhân PSC và bệnh lý viêm ruột

Dịch tễ học

  • Bệnh nhân mắc đồng thời PSC và IBD có nguy cơ ung thư đại trực tràng (CRC) tăng khoảng 3 đến 4 lần so với bệnh nhân chỉ mắc IBD đơn thuần. Trong nhóm bệnh nhân IBD, nhiều nghiên cứu đã chứng minh nguy cơ CRC tăng cao ở bệnh nhân PSC có kèm theo UC, tuy nhiên nguy cơ CRC ở bệnh nhân mắc kèm bệnh Crohn vẫn chưa rõ ràng. (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Đặc điểm lâm sàng

  • CRC ở bệnh nhân có kèm PSC và IBD thường xuất hiện ở đại tràng phải và được chẩn đoán sớm hơn so với CRC đơn lẻ, với độ tuổi trung vị tại thời điểm chẩn đoán là 49 tuổi. Đa số bệnh nhân không có triệu chứng và CRC thường được phát hiện qua tầm soát. (Xem thêm ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)

Quản lý

  • Việc xử trí CRC trên bệnh nhân PSC kèm IBD không khác biệt so với các bệnh nhân CRC khác. Tuy nhiên, bệnh nhân cần được tư vấn kỹ về các biến chứng liên quan đến phẫu thuật như tăng nguy cơ viêm túi (pouchitis) và giãn tĩnh mạch quanh lỗ mở thông, đồng thời cần theo dõi sát sao tình trạng mất bù gan sau phẫu thuật cắt đại trực tràng. (Xem thêm ‘Quản lý’ ở dưới.)
  • Mặc dù nhiều loại thuốc đã được đánh giá để phòng ngừa CRC ở bệnh nhân mắc đồng thời PSC và IBD, hiện chưa có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy các loại thuốc này làm giảm nguy cơ CRC. (Xem thêm ‘Hóa dự phòng’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here