TÓM TẮT
Định nghĩa và tỷ lệ mắc –
Nhận thức vô ý trong khi gây mê (AAGA) là hiếm gặp (tỷ lệ từ 1 đến 2 trường hợp trên 1.000 ca gây mê khi bệnh nhân được hỏi kỹ về khả năng hồi tưởng quanh phẫu thuật). Hầu hết các trường hợp AAGA trong gây mê toàn thân xảy ra trong giai đoạn khởi mê và hồi tỉnh, thay vì trong giai đoạn duy trì mê. Các biểu hiện lâm sàng dao động từ việc nghe thấy các âm thanh đơn lẻ cho đến việc tỉnh táo hoàn toàn, bị bất động và cảm thấy đau. (Xem ‘Tỷ lệ mắc và các đặc điểm của nhận thức’ ở dưới.)
Yếu tố nguy cơ
- Sử dụng thuốc giãn cơ (NMBA). Tỷ lệ tự báo cáo AAGA là khoảng 1/8.000 khi có sử dụng NMBA so với 1/136.000 khi không sử dụng NMBA. (Xem ‘Phong bế thần kinh cơ’ ở dưới.)
- Các quy trình phẫu thuật liên quan đến việc sử dụng NMBA, khởi mê trình tự nhanh hoặc độ mê nông (ví dụ: các phẫu thuật cấp cứu và chấn thương, phẫu thuật tim có sử dụng máy tim phổi nhân tạo [CPB], mổ lấy thai). (Xem ‘Các yếu tố nguy cơ liên quan đến phẫu thuật’ ở dưới.)
- Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh nhân (ví dụ: khó đặt nội khí quản, béo phì, kháng thuốc mê hoặc dung nạp thuốc mê do di truyền hoặc mắc phải). (Xem ‘Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh nhân’ ở dưới.)
- Kỹ thuật gây mê tĩnh mạch hoàn toàn (TIVA). (Xem ‘Gây mê tĩnh mạch hoàn toàn’ ở dưới.)
- Các vấn đề kỹ thuật như máy gây mê hoặc bơm tiêm điện (IV) bị lỗi hoặc sử dụng sai cách, thường liên quan đến lỗi con người. (Xem ‘Các vấn đề kỹ thuật’ ở dưới.)
Phòng ngừa
- Các chiến lược nhằm đảm bảo duy trì nồng độ thuốc mê phù hợp. Các kỹ thuật theo dõi được phát triển để nhận biết và giảm thiểu nguy cơ thiếu độ mê gây ra AAGA, đồng thời tránh quá liều thuốc mê bao gồm (hình 2):
- Theo dõi khi sử dụng các thuốc mê đường hô hấp (bảng 1), bao gồm nồng độ thuốc mê cuối kỳ thở ra (ETAC) để đánh giá liệu liều thuốc mê có gần với nồng độ tối thiểu để duy trì sự mất nhận thức (MAC) mong muốn của thuốc được chọn hay không, với các báo động được thiết lập để phát hiện nồng độ ETAC quá thấp (ví dụ: < 0,7 MAC). (Xem ‘Nồng độ thuốc mê cuối kỳ thở ra’ ở dưới.)
- Theo dõi não bằng điện não đồ (EEG) dạng thô hoặc đã qua xử lý và sử dụng thiết bị truyền thuốc có kiểm soát mục tiêu (TCI) (nếu có) khi áp dụng kỹ thuật TIVA, đặc biệt nếu có sử dụng NMBA. (Xem ‘Theo dõi não’ ở dưới.)
- Các chiến lược bổ sung để tránh hoặc giảm thiểu hậu quả của AAGA bao gồm:
- Thông báo về nguy cơ nhỏ của AAGA trong quá trình lấy cam kết/tư vấn, kèm theo giải thích rằng việc hồi tưởng ngắn trong giai đoạn khởi mê và hồi tỉnh là không hiếm gặp (bảng 2 và bảng 3). Nếu có kế hoạch đặt nội khí quản khi thức hoặc an thần trong quản lý gây mê có theo dõi (thay vì gây mê toàn thân), quá trình tư vấn cần nhấn mạnh rằng bệnh nhân có thể sẽ có một số hồi tưởng nhất định. (Xem ‘Quản lý kỳ vọng của bệnh nhân’ ở dưới.)
- Tránh phong bế thần kinh cơ hoàn toàn nếu có thể để giảm thiểu nguy cơ AAGA. Phải diễn giải bất kỳ cử động nào trong khi gây mê là dấu hiệu có thể của AAGA và tăng độ mê tương ứng. Đáng chú ý, tình trạng hoảng loạn nghiêm trọng sau mổ và tổn thương tâm lý lâu dài thường liên quan đến cảm giác bất động nhiều hơn là cảm giác đau. (Xem ‘Phong bế thần kinh cơ’ và ‘Tránh phong bế thần kinh cơ hoàn toàn’ ở dưới.)
- Sử dụng các thiết bị kỹ thuật để đưa thuốc mê vào cơ thể một cách phù hợp, bao gồm việc tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn đã được công bố về kiểm tra và sử dụng máy gây mê (bảng 5), cũng như sử dụng đúng cách các thiết bị truyền dịch IV. (Xem ‘Tránh sử dụng sai thiết bị kỹ thuật’ ở dưới.)
- Sử dụng các thuốc an thần hoặc giảm đau bổ trợ càng sớm càng tốt nếu nghi ngờ có sự cố AAGA xảy ra trong phẫu thuật. (Xem ‘Sử dụng các thuốc bổ trợ’ ở dưới.)
- Duy trì thái độ chuyên nghiệp trong tất cả các cuộc thảo luận trong mổ ngay cả khi giả định rằng bệnh nhân đang trong trạng thái mất ý thức.
Nhận biết sau phẫu thuật –
Việc nhận biết AAGA có thể đã xảy ra là rất quan trọng để có thể thảo luận, trấn an và tư vấn thêm nhằm giảm nhẹ các triệu chứng tâm lý tương tự như rối loạn căng thẳng sau sang chấn (ví dụ: mơ hoặc ác mộng lặp đi lặp lại, rối loạn giấc ngủ, các ý nghĩ xâm nhập, hồi tưởng/flashbacks, phản ứng giật mình quá mức, tình trạng cảnh giác quá mức, né tránh các kích thích liên quan đến sang chấn) (hình 3). (Xem ‘Nhận biết và quản lý sau phẫu thuật’ ở dưới.)
