TÓM TẮT
Dịch tễ học – Các triệu chứng vận mạch (VMS) hay còn gọi là “bốc hỏa” là than phiền phổ biến nhất trong giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh, xảy ra ở tối đa 80% phụ nữ trong giai đoạn chuyển tiếp muộn (hình 1). Tuy nhiên, chỉ có khoảng 20% đến 30% phụ nữ tìm kiếm sự hỗ trợ y tế để điều trị. (Xem ‘Tỷ lệ lưu hành và diễn tiến tự nhiên’ ở dưới.)
Triệu chứng điển hình – Cơn bốc hỏa thường bắt đầu bằng cảm giác nóng đột ngột tập trung ở vùng ngực trên và mặt, sau đó nhanh chóng lan ra toàn thân. Cảm giác nóng kéo dài từ 2 đến 4 phút, thường đi kèm với vã mồ hôi nhiều và đôi khi là đánh trống ngực (xem mục ‘Triệu chứng điển hình’ ở dưới). VMS xảy ra vào ban đêm có thể gây rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng ở nhiều phụ nữ. (Xem ‘Ảnh hưởng đến giấc ngủ’ ở dưới.)
Có bốn diễn tiến khác nhau của các triệu chứng mãn kinh xảy ra với tần suất gần như tương đương: khởi phát sớm (18,4%), khởi phát gần thời điểm kỳ kinh cuối và giảm dần về sau (29,0%), khởi phát sớm với tần suất cao kéo dài (25,6%) và tần suất thấp kéo dài (27,0%) (hình 2).
Xử trí
- Triệu chứng nhẹ – Những người có triệu chứng bốc hỏa nhẹ thường không tìm kiếm hoặc không cần can thiệp dược lý. Tuy nhiên, một số phụ nữ chọn các phương pháp không dùng hormone. (Xem ‘Phụ nữ có triệu chứng bốc hỏa nhẹ’ ở dưới.)
- Triệu chứng trung bình đến nặng
- Liệu pháp hormone – Đối với phụ nữ sau mãn kinh có triệu chứng VMS từ trung bình đến nặng (và không có tiền sử ung thư vú, bệnh tim mạch hoặc không có nguy cơ trung bình đến cao đối với các bệnh này), chúng tôi sử dụng liệu pháp estrogen liều thấp kết hợp progestin (hoặc chỉ dùng estrogen nếu không có tử cung). Các thông tin bổ sung về liệu pháp hormone mãn kinh (MHT), bao gồm rủi ro, lợi ích, đối tượng chỉ định, cũng như liều lượng, phác đồ và thời gian điều trị được thảo luận chi tiết trong một phần riêng. (Xem ‘Các lựa chọn hormone’ ở dưới và “Điều trị các triệu chứng mãn kinh bằng liệu pháp hormone”, phần ‘Phác đồ ưu tiên của chúng tôi’.)
- Lựa chọn không dùng hormone – Đối với phụ nữ có triệu chứng bốc hỏa từ trung bình đến nặng xảy ra cả ngày và đêm, những người có chống chỉ định với estrogen, không dung nạp tốt, hoặc những người đã ngừng estrogen và xuất hiện lại các triệu chứng nhưng muốn tránh dùng lại estrogen, chúng tôi đề xuất các liệu pháp không hormone như thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRIs), gabapentin hoặc fezolinetant (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Điều trị dược lý không dùng hormone’ ở dưới.)
Fezolinetant: lo ngại về độc tính trên gan – Fezolinetant, một thuốc đối kháng thụ thể neurokinin 3, là một tác nhân không hormone hiệu quả khác. Tuy nhiên, một số trường hợp độc tính trên gan đã được ghi nhận sau khi lưu hành trên thị trường; do đó, nhãn hướng dẫn sửa đổi của FDA yêu cầu đo transaminase và bilirubin tại thời điểm bắt đầu, hàng tháng trong 3 tháng đầu, sau đó đo vào tháng thứ 6 và tháng thứ 9 của quá trình điều trị. (Xem ‘Thuốc đối kháng thụ thể neurokinin 3’ ở dưới.)
