Tổng quan về gây tê thần kinh ngoại biên

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

  • Ứng dụng: Phong bế thần kinh ngoại biên (PNB) được sử dụng rộng rãi trong gây tê phẫu thuật cũng như giảm đau sau mổ và giảm đau không do phẫu thuật. Mặc dù không có chỉ định cụ thể, kỹ thuật này thường được áp dụng nhằm tránh gây mê toàn thân và giảm thiểu việc sử dụng opioid. (Xem ‘Sử dụng phong bế thần kinh’ ở dưới.)
  • Bệnh nhân rối loạn đông máu: Cần tránh thực hiện phong bế thần kinh ở các vị trí giải phẫu sâu (ví dụ: phong bế đám rối, phong bế cạnh sống) và các vị trí gần mạch máu lớn khó ép trực tiếp ở bệnh nhân có tình trạng đông máu bất thường (bảng 1). (Xem ‘Bệnh nhân đang dùng thuốc chống huyết khối’ ở dưới.)
  • Kỹ thuật hướng dẫn phong bế: Thần kinh ngoại biên có thể được xác định vị trí thông qua quan sát trực tiếp dưới siêu âm, sử dụng đáp ứng vận động với máy kích thích thần kinh bằng điện, hoặc kết hợp cả hai. Chúng tôi ưu tiên sử dụng hướng dẫn siêu âm thay vì kích thích thần kinh để định vị thần kinh chính cho hầu hết các kỹ thuật PNB. Việc sử dụng hướng dẫn siêu âm thường giúp cải thiện chất lượng phong bế, rút ngắn thời gian thực hiện và thời gian khởi phát, giảm thể tích thuốc tê cần dùng, đồng thời giảm tỷ lệ một số biến chứng; hiện chưa có đủ bằng chứng để chứng minh sự khác biệt về biến chứng thần kinh giữa hai kỹ thuật này. Chúng tôi khuyến cáo không nên cố ý gây cảm giác dị cảm để định vị thần kinh khi thực hiện PNB do nguy cơ tổn thương thần kinh (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Kỹ thuật hướng dẫn phong bế’ ở dưới.)
  • Tiêm một lần so với đặt catheter quanh thần kinh: PNB có thể được thực hiện bằng cách tiêm một liều thuốc tê duy nhất (tiêm một lần) hoặc truyền thuốc tê qua một catheter đặt quanh thần kinh (phong bế thần kinh liên tục). (Xem ‘Các loại phong bế thần kinh’ ở dưới.) Các kỹ thuật sử dụng catheter cho phép kéo dài thời gian phong bế thông qua việc tiêm ngắt quãng hoặc truyền liên tục. Phong bế liên tục có thể được áp dụng trong cả môi trường điều trị nội trú hoặc ngoại trú. (Xem ‘Các kỹ thuật sử dụng catheter liên tục’ ở dưới.)
  • Thuốc dùng trong phong bế thần kinh: PNB được thực hiện bằng cách tiêm thuốc tê, có thể phối hợp thêm các thuốc hỗ trợ khác (bảng 3). (Xem ‘Thuốc’ ở dưới.)
  • Biến chứng: Các biến chứng có thể xảy ra khi thực hiện PNB bao gồm tổn thương thần kinh, khối máu tụ, độc tính hệ thống do thuốc tê (LAST) và tổn thương mô thứ phát. Nhiễm trùng và dị ứng thuốc tê hiếm khi xảy ra. Các biến chứng khác có thể xuất hiện tùy thuộc vào loại phong bế cụ thể. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.) LAST có thể xảy ra với bất kỳ đường tiêm thuốc tê nào. Một bảng tóm tắt nhanh về các yếu tố nguy cơ, dấu hiệu, triệu chứng và cách xử trí LAST được trình bày trong bảng 4.

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here