Tổng quan

Điều trị loạn sản cơ sợi động mạch thận

TÓM TẮT

Định nghĩa

  • Loạn sản cơ mạch (FMD) là một rối loạn không do viêm và không do xơ vữa, dẫn đến hẹp động mạch, phình mạch, bóc tách và xoắn vặn động mạch. Tình trạng này có thể gặp ở hầu hết các giường mạch máu. Các động mạch thường bị ảnh hưởng nhất là động mạch thận và động mạch cảnh trong; ít gặp hơn ở động mạch đốt sống, động mạch chậu, động mạch tạng và động mạch vành. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng

  • Biểu hiện thường gặp nhất của FMD động mạch thận là tăng huyết áp do hẹp động mạch thận. Các lựa chọn quản lý tăng huyết áp ở bệnh nhân FMD bao gồm liệu pháp thuốc hạ huyết áp và tái thông mạch. Hầu hết bệnh nhân FMD động mạch thận có tăng huyết áp đều cần điều trị bằng thuốc hạ huyết áp, ngay cả khi đã được tái thông mạch. (Xem ‘Điều trị loạn sản cơ mạch động mạch thận’ ở dưới.)

Lựa chọn thuốc hạ huyết áp

  • Lựa chọn thuốc hạ huyết áp đầu tay trong FMD là thuốc ức chế men chuyển (ACE) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB). Nếu chỉ sử dụng thuốc ức chế hệ renin-angiotensin mà chưa đạt huyết áp mục tiêu, cần phối hợp thêm các thuốc hạ huyết áp khác (như thuốc lợi tiểu thiazide hoặc thuốc chẹn kênh calci tác dụng kéo dài) khi cần thiết. Huyết áp mục tiêu ở bệnh nhân FMD tương tự như ở các bệnh nhân tăng huyết áp cùng độ tuổi có nguyên nhân khác không phải do FMD. (Xem ‘Liệu pháp hạ huyết áp’ ở dưới.)

Chỉ định tái thông mạch

Chúng tôi khuyến cáo các bệnh nhân FMD động mạch thận kèm tăng huyết áp sau đây nên được tái thông mạch thận thay vì chỉ điều trị bằng thuốc hạ huyết áp (xem ‘Chỉ định tái thông mạch’ ở dưới) (Khuyến cáo 2C):

  • Những người mới khởi phát tăng huyết áp, đặc biệt là bệnh nhân trẻ tuổi (nhóm ít có khả năng mắc bệnh lý xơ vữa kèm theo), với mục tiêu điều trị khỏi tăng huyết áp hoặc giảm đáng kể số lượng thuốc hạ huyết áp cần dùng.
  • Những người tăng huyết áp kháng trị mặc dù đã tuân thủ phác đồ phối hợp ba loại thuốc phù hợp.
  • Những người không dung nạp được thuốc hạ huyết áp hoặc không tuân thủ phác đồ điều trị.
  • Người trưởng thành bị FMD động mạch thận hai bên, hoặc FMD động mạch thận một bên ở người chỉ còn một thận hoạt động, có tình trạng suy giảm chức năng thận tiến triển không rõ nguyên nhân và được cho là do hẹp động mạch thận (tức là “bệnh thận thiếu máu cục bộ”). Các biểu hiện lâm sàng của bệnh thận thiếu máu cục bộ được trình bày ở phần khác.
  • Trẻ em tăng huyết áp có FMD động mạch thận.

Phương pháp tái thông mạch

  • Ở hầu hết bệnh nhân FMD được chỉ định tái thông mạch thận, chúng tôi khuyến cáo nên thực hiện nong mạch qua da (PTA) thay vì phẫu thuật (Khuyến cáo 2C). Tuy nhiên, phẫu thuật được ưu tiên nếu không thể thực hiện nong mạch hoặc nếu có kèm theo phình động mạch thận. (Xem ‘Nong mạch so với phẫu thuật’ ở dưới.)
  • PTA thường được thực hiện mà không đặt stent (khác với PTA trong hẹp động mạch thận do xơ vữa). Nhìn chung, stent chỉ được đặt khi có tình trạng bóc tách xảy ra do thủ thuật PTA hoặc trong trường hợp hiếm gặp là thủng động mạch thận trong khi nong mạch. Khi thực hiện PTA, cần đánh giá huyết động bằng dây dẫn đo áp lực; kết quả mong muốn là giải quyết được sự chênh lệch áp lực. Việc đo chênh lệch áp lực trước và sau khi nong mạch là rất quan trọng để đảm bảo tất cả các màng xơ trong lòng mạch đã được phá vỡ đầy đủ. Sau thủ thuật, nên sử dụng siêu âm Doppler để đánh giá hiệu quả can thiệp. Ở những bệnh nhân được điều trị thành công, mức độ dòng chảy xoáy sẽ giảm bớt và vận tốc dòng chảy tại đoạn giữa đến đoạn xa của động mạch thận sẽ cải thiện. (Xem ‘Nong mạch qua da’ ở dưới.)
  • Nếu phẫu thuật, bắc cầu chủ – thận bằng tĩnh mạch hiển là thủ thuật tái thông thường được thực hiện nhất ở bệnh nhân FMD động mạch thận. (Xem ‘Phẫu thuật’ ở dưới.)

Theo dõi

Một hạn chế quan trọng của việc chỉ điều trị nội khoa là tình trạng hẹp động mạch thận và suy giảm chức năng thận có thể tiến triển mặc dù huyết áp đã được kiểm soát tốt. Điều này thường gặp trong FMD dạng khu trú nhưng hiếm khi xảy ra trong FMD dạng đa ổ. Do đó, mọi bệnh nhân FMD cần được đo nồng độ creatinine huyết thanh định kỳ mỗi 6 tháng và siêu âm Doppler mỗi 12 tháng. Bệnh nhân được tái thông mạch qua da nên được thực hiện siêu âm Doppler và đo creatinine huyết thanh vào lần thăm khám đầu tiên sau thủ thuật, sau đó mỗi 6 tháng một lần trong vòng 2 năm, và sau đó là hàng năm nếu tình trạng ổn định. (Xem ‘Theo dõi và tái khám’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here