Giải phẫu bệnh các khối u vùng đầu mặt cổ

TÓM TẮT

  • Khối u vùng đầu mặt cổ

    Vùng đầu mặt cổ là một khu vực có cấu trúc giải phẫu và mô học đa dạng, hình thành nên một phổ rộng các khối u với hình thái, biến đổi phân tử, yếu tố nguy cơ và các lựa chọn điều trị khác nhau (hình 1). (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

  • Quy trình chẩn đoán ban đầu

    Đối với hầu hết các khối u vùng đầu mặt cổ, quy trình chẩn đoán ban đầu có thể sử dụng bệnh phẩm sinh thiết (sinh thiết một phần hoặc sinh thiết cắt) hoặc bệnh phẩm tế bào học (ví dụ: chọc hút tế bào bằng kim nhỏ [FNA] hoặc khối tế bào [cell block]). (Xem ‘Xử trí bệnh phẩm giải phẫu bệnh’ và ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

  • Cắt bỏ khối u và diện cắt phẫu thuật

    Đối với các khối u được chỉ định cắt bỏ bằng phẫu thuật, việc xử trí bệnh phẩm phẫu thuật đúng cách là yếu tố then chốt để phân tích mô bệnh học và đánh giá tình trạng diện cắt. Sự trao đổi thông tin phù hợp giữa phẫu thuật viên và bác sĩ giải phẫu bệnh là vô cùng thiết yếu. (Xem ‘Cắt bỏ khối u và diện cắt phẫu thuật’ ở dưới.)

  • Các tổn thương tiền thân của ung thư biểu mô tế bào vảy

    Các tổn thương tiền thân của ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) bao gồm bạch sản, hồng sản, bạch-hồng sản; tăng sản tế bào vảy; loạn sản tế bào vảy; và bạch sản sùi tăng sinh. (Xem ‘Các tổn thương tiền thân của ung thư biểu mô tế bào vảy’ ở dưới.)

    Những bệnh nhân có tiền sử tiếp xúc với các tác nhân gây ung thư và có các thay đổi niêm mạc nghi ngờ là các tổn thương tiền thân này cần được đánh giá và sinh thiết chẩn đoán.

    Đối với bệnh nhân loạn sản tế bào vảy, cần theo dõi lâm sàng sát sao vì các đặc điểm giải phẫu bệnh có hạn chế trong việc dự báo khả năng chuyển dạng ác tính. (Xem ‘Loạn sản tế bào vảy’ ở dưới.)

  • Ung thư biểu mô tế bào vảy

    SCC tại các vị trí khác nhau ở vùng đầu mặt cổ có các yếu tố nguy cơ lâm sàng – giải phẫu bệnh (ví dụ: sử dụng thuốc lá và rượu, virus gây u nhú ở người [HPV], virus Epstein-Barr [EBV]), hình thái và phương pháp xử trí khác nhau. (Xem ‘Ung thư biểu mô tế bào vảy’ và ‘Các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)

  • Các yếu tố tiên lượng

    Đối với bệnh nhân SCC, một số yếu tố nguy cơ mô học có giá trị tiên lượng và ảnh hưởng đến điều trị, chẳng hạn như: giai đoạn bệnh; độ xâm lấn của khối u (đối với SCC khoang miệng); kiểu xâm lấn; xâm lấn quanh thần kinh và xâm lấn mạch bạch huyết – mạch máu; tình trạng diện cắt; và xâm lấn ngoài vỏ. Giá trị tiên lượng của phân độ mô học trong SCC vẫn chưa rõ ràng. (Xem ‘Các yếu tố tiên lượng’ ở dưới.)

  • Các khối u biểu mô niêm mạc khác

    Các khối u biểu mô niêm mạc khác bao gồm u nhú Schneider, bệnh u nhú đường hô hấp tái phát và ung thư biểu mô không biệt hóa vùng xoang mũi. U nhú Schneider, bao gồm các loại u nhú dạng nấm, u nhú dạng lộn ngược và u nhú Schneider dạng oncocytic, thường phát sinh từ niêm mạc có nguồn gốc ngoại bì của khoang mũi và các xoang (biểu mô Schneider). (Xem ‘Các khối u biểu mô niêm mạc khác’ ở dưới.)

  • Khối u tuyến nước bọt

    Các khối u tuyến nước bọt đa dạng về mặt mô học và có thể là lành tính hoặc ác tính. (Xem ‘Khối u tuyến nước bọt’ ở dưới.)

  • Khối u lành tính

    Các loại mô học u lành tính thường gặp bao gồm u Warthin và u tuyến đa hình. (Xem ‘Khối u tuyến nước bọt lành tính’ ở dưới.)

  • Khối u ác tính

    Các loại mô học u ác tính thường gặp bao gồm: ung thư biểu mô nhầy – biểu bì (MEC); ung thư biểu mô nang tuyến (ACC); ung thư biểu mô ống tuyến nước bọt; ung thư biểu mô đa hình; và ung thư biểu mô tiết tương tự tuyến vú. (Xem ‘Khối u tuyến nước bọt’ ở dưới.)

  • Các khối u hiếm gặp vùng đầu mặt cổ

    Các khối u hiếm gặp ở vùng đầu mặt cổ bao gồm các sarcoma vùng đầu mặt cổ và u nguyên bào thần kinh khứu giác, cùng các loại khác. (Xem ‘Các khối u hiếm gặp và khác’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here