TÓM TẮT
- Đánh giá ban đầu – Việc đánh giá bệnh nhân người lớn tại khoa Cấp cứu (ED) vì đau bụng hoặc đau vùng hông lưng bắt đầu bằng khai thác bệnh sử, thăm khám lâm sàng và nhanh chóng xác định xem bệnh nhân có dấu hiệu của một tình trạng thảm họa ổ bụng hay không (các dấu hiệu gợi ý bao gồm tụt huyết áp hoặc các dấu hiệu sốc khác, viêm phúc mạc, vẻ ngoài nhiễm độc). Cần đặc biệt lưu ý các đặc điểm nguy cơ cao của đau bụng (bảng 1). (Xem thêm ‘Tổng quan về quy trình đánh giá’ ở dưới.)
- Bệnh sử – Tính chất, thời điểm và vị trí đau giúp xác định mức độ cấp tính và khu trú chẩn đoán phân biệt (bảng 2, hình 1, bảng 3 và bảng 16). Cơn đau khởi phát dữ dội và đạt cường độ tối đa ngay từ đầu gợi ý một cấp cứu mạch máu (ví dụ: vỡ hoặc bóc tách động mạch chủ, thiếu máu cục bộ mạc treo, thuyên tắc phổi), tắc nghẽn các cấu trúc dạng ống nhỏ (ví dụ: niệu quản), hoặc bệnh lý cơ quan sinh sản (ví dụ: xoắn buồng trứng, vỡ nang buồng trứng). Sự hiện diện của các triệu chứng đi kèm (bảng 6), các bệnh lý nội khoa và ngoại khoa trước đó, thuốc đang sử dụng và tiền sử xã hội (bảng 7) làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý khác nhau của bệnh nhân. (Xem thêm ‘Bệnh sử’ ở dưới.)
- Khám thực thể – Sờ bụng giúp xác định vị trí đau và phát hiện các dấu hiệu kích thích phúc mạc, chẳng hạn như phản ứng thành bụng và bụng cứng. Bụng cứng là dấu hiệu đáng lo ngại, tuy nhiên các kỹ thuật truyền thống để đánh giá phản ứng dội có độ nhạy và độ đặc hiệu hạn chế trong việc xác định viêm phúc mạc. (Xem thêm ‘Khám thực thể’ ở dưới.)
- Vai trò của siêu âm tại chỗ (POCUS) – Siêu âm tại chỗ do bác sĩ cấp cứu thực hiện đã trở thành một công cụ quan trọng trong đánh giá bệnh nhân đau bụng. Siêu âm đặc biệt hữu ích ở những bệnh nhân không ổn định hoặc khi nghi ngờ có thảm họa ổ bụng. Phương pháp này có thể xác định tràn máu ổ bụng, phình động mạch chủ bụng (AAA), thai trong tử cung, sỏi mật, bàng quang căng chướng, tràn dịch màng tim, thận ứ nước và đo đường kính tĩnh mạch chủ dưới để đánh giá tình trạng dịch. (Xem thêm ‘Vai trò của siêu âm tại chỗ’ ở dưới.)
- Cận lâm sàng – Ngoại trừ trường hợp bệnh sử và thăm khám lâm sàng đã xác định được nguyên nhân gây đau, hầu hết bệnh nhân sẽ cần thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng như đã thảo luận trong văn bản. (Xem thêm ‘Cận lâm sàng’ ở dưới.)
- Bệnh nhân nghi ngờ thảm họa ổ bụng
Các quá trình trong ổ bụng có thể gây thiếu máu cục bộ, nhiễm trùng huyết hoặc xuất huyết dẫn đến thảm họa ổ bụng đe dọa tính mạng được trình bày trong bảng (bảng 10). Tiếp cận bệnh nhân mang thai có huyết động không ổn định hoặc viêm phúc mạc được trình bày trong sơ đồ (sơ đồ 2). (Xem thêm ‘Chẩn đoán phân biệt thảm họa ổ bụng’ ở dưới.)
Cần triển khai điều trị đồng thời với đánh giá ban đầu khi nghi ngờ thảm họa ổ bụng. Thiết lập đường truyền tĩnh mạch, truyền dịch (ví dụ: dịch tinh thể), thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng và siêu âm tại chỗ. Bệnh nhân có thể cần thuốc vận mạch, glucocorticoid liều stress, truyền chế phẩm máu và/hoặc kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm. (Xem thêm ‘Hồi sức’ ở dưới.)
Chúng tôi hội chẩn sớm với các chuyên gia thủ thuật trong quá trình bệnh nhân điều trị tại khoa Cấp cứu, vì can thiệp phẫu thuật và/hoặc dẫn lưu qua da thường là cần thiết để kiểm soát nguồn nhiễm trùng trong ổ bụng hoặc cầm máu trong trường hợp xuất huyết nội phúc mạc. (Xem thêm ‘Hội chẩn chuyên khoa’ ở dưới.)
Chụp X-quang ngực thẳng tại giường để tìm liềm hơi phúc mạc, giúp xác nhận chẩn đoán thủng tạng rỗng. Chụp cắt lớp vi tính (CT) bụng chậu là lựa chọn ưu tiên cho bệnh nhân nghi ngờ thảm họa ổ bụng nhưng chưa phân loại được nguyên nhân. (Xem thêm ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
- Bệnh nhân không có dấu hiệu thảm họa ổ bụng
Việc đánh giá tiếp theo tùy thuộc vào tình trạng mang thai của bệnh nhân. Tiếp cận đau bụng hoặc đau vùng chậu cấp tính ở bệnh nhân mang thai có huyết động ổn định, không viêm phúc mạc được cung cấp trong sơ đồ (sơ đồ 4) và được thảo luận chi tiết riêng. (Xem “Tiếp cận đau bụng/vùng chậu cấp ở bệnh nhân mang thai và hậu sản”, phần ‘Đau bụng cấp liên quan đến thai nghén hoặc đường sinh dục’.)
Quy trình đánh giá nam giới trưởng thành và nữ giới không mang thai được trình bày trong sơ đồ (sơ đồ 1) và được thảo luận chi tiết hơn trong văn bản. (Xem thêm ‘Nguyên nhân không được xác định qua bệnh sử và thăm khám’ ở dưới.)
Đôi khi có thể trì hoãn hoặc tránh các xét nghiệm chuyên sâu nếu bệnh sử, thăm khám và xét nghiệm (nếu đã thực hiện) đã xác định rõ nguyên nhân. Các tình huống ví dụ được cung cấp trong văn bản. (Xem thêm ‘Nguyên nhân được xác định qua bệnh sử và thăm khám’ ở dưới.)
- Các tình trạng nguy cơ cao – Yếu tố nguy cơ dẫn đến các nguyên nhân nghiêm trọng gây đau bụng và đau vùng hông lưng bao gồm: tuổi cao, suy giảm miễn dịch, nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV), ung thư đang tiến triển, sử dụng glucocorticoid mạn tính hoặc thuốc ức chế miễn dịch, lạm dụng rượu, người ghép tạng, bệnh hồng cầu hình liềm, tiền sử phẫu thuật bụng (đặc biệt là phẫu thuật thu nhỏ dạ dày), bệnh tim mạch và can thiệp thủ thuật gần đây. (Xem thêm ‘Bệnh nhân nguy cơ cao’ ở dưới.)
- Giảm đau – Chúng tôi chỉ định giảm đau phù hợp để hỗ trợ quá trình đánh giá tại khoa Cấp cứu. Các thuốc giảm đau, bao gồm cả opioid, không gây ảnh hưởng đến việc đánh giá đau bụng và không làm tăng tần suất đưa ra các quyết định xử trí sai. Mục tiêu của việc giảm đau là đưa mức độ đau về ngưỡng có thể kiểm soát được, cải thiện sự thoải mái cho bệnh nhân và có thể nâng cao độ chính xác của việc thăm khám bằng cách giảm thiểu phản ứng thành bụng tự nguyện. Mục tiêu không phải là loại bỏ hoàn toàn cơn đau. Chúng tôi hạn chế tối đa việc sử dụng opioid ở những bệnh nhân có đau bụng không phân loại, tái phát và nguy cơ thấp. (Xem thêm ‘Giảm đau’ ở dưới.)
- Xử trí và định hướng điều trị – Đối với bệnh nhân không xác định được nguyên nhân cụ thể, hướng xử trí tùy thuộc vào tuổi tác, bệnh đồng mắc, mức độ đau, nhu cầu quản lý đau, việc đã chụp hình ảnh hay chưa, mức độ chắc chắn của kết quả hình ảnh, khả năng mắc bệnh nghiêm trọng, khả năng theo dõi sát và mức độ tin cậy cũng như hỗ trợ từ xã hội/gia đình. Chúng tôi sẽ trấn an và cho xuất viện hầu hết những bệnh nhân đau bụng không đặc hiệu, kể cả người cao tuổi, nếu kết quả CT và xét nghiệm bình thường. Nếu vẫn còn nghi ngờ về bản chất hoặc mức độ nghiêm trọng của nguyên nhân tiềm ẩn, đặc biệt là ở người cao tuổi hoặc người có các tình trạng nguy cơ cao, chúng tôi sẽ cho nhập viện hoặc theo dõi tại khoa Cấp cứu. (Xem thêm ‘Xử trí và định hướng điều trị’ ở dưới.)
