TÓM TẮT
Xoắn đại tràng sigma xảy ra khi một quai đại tràng sigma chứa đầy khí xoay quanh mạc treo (hình 1). Sự tắc nghẽn lòng ruột và suy giảm tưới máu mạch máu xảy ra lần lượt khi mức độ xoắn vượt quá 180 và 360 độ. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Tại Hoa Kỳ, xoắn đại tràng sigma là nguyên nhân gây tắc ruột tương đối hiếm gặp, chiếm dưới 10% trong hầu hết các báo cáo. Ngược lại, tại nhiều khu vực khác trên thế giới, đây là nguyên nhân chính trong 50 đến 80% các trường hợp tắc ruột. Bệnh thường gặp ở người cao tuổi, đặc biệt là những bệnh nhân nằm viện lâu ngày, suy kiệt do các bệnh lý thần kinh hoặc tâm thần và có tiền sử táo bón. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Các đặc điểm giải phẫu khiến bệnh nhân dễ gặp xoắn đại tràng sigma bao gồm đại tràng sigma dài (thừa) với mạc treo hẹp và tình trạng rối loạn vận động đại tràng, tuy nhiên cơ chế bệnh sinh chính xác của hiện tượng xoắn này vẫn chưa được xác định rõ. (Xem ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
Đa số bệnh nhân xoắn đại tràng sigma nhập viện với tình trạng đau bụng tiến triển chậm, buồn nôn, chướng bụng và táo bón. Nôn thường xuất hiện vài ngày sau khi bắt đầu đau. Khoảng 17% bệnh nhân khởi phát triệu chứng trong vòng 48 giờ với các biểu hiện lâm sàng rầm rộ, bao gồm đau cấp tính dữ dội, bí trung đại tiện và nôn (xảy ra trước hoặc đồng thời với đau bụng). Ở bệnh nhân trẻ tuổi, biểu hiện có thể không điển hình với các đợt đau bụng tái phát và tự thuyên giảm do đại tràng tự tháo xoắn. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Nghi ngờ xoắn đại tràng sigma ở những bệnh nhân đau bụng, buồn nôn, chướng bụng, táo bón/bí trung đại tiện và khám thực thể thấy bụng chướng, gõ vang. Chúng tôi chỉ định chụp cắt lớp vi tính (CT) bụng để xác định chẩn đoán xoắn đại tràng sigma và loại trừ các nguyên nhân gây đau bụng hoặc tắc ruột khác. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Cần can thiệp phẫu thuật cấp cứu đối với bệnh nhân có biến chứng thủng ruột hoặc viêm phúc mạc (sơ đồ 1). (Xem ‘Bệnh nhân có dấu hiệu nguy hiểm’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân không có thủng ruột hay viêm phúc mạc, chúng tôi đề xuất nội soi đại tràng sigma ống mềm để cố gắng tháo xoắn đoạn ruột bị xoắn (Khuyến cáo 2C). Sau khi tháo xoắn thành công, một ống thông trực tràng sẽ được lưu lại. Nếu tháo xoắn thất bại, cần phẫu thuật khẩn cấp (sơ đồ 1).
Ở những bệnh nhân đã được giải áp qua nội soi, chúng tôi đề xuất phẫu thuật để ngăn ngừa tái phát sau khi tháo xoắn nội soi (Khuyến cáo 2C). Phương pháp thường dùng là cắt đại tràng sigma và nối ngay. Các kỹ thuật nội soi nâng cao như mở thông đại tràng qua da hoặc cố định đại tràng sigma qua da được chỉ định cho những bệnh nhân chọn lọc không có chỉ định phẫu thuật và có tiền sử tái phát xoắn đại tràng sigma từ 2 lần trở lên (sơ đồ 1). (Xem ‘Xử trí triệt để sau tháo xoắn nội soi’ ở dưới.)
