TÓM TẮT
Tỷ lệ mắc – Biến chứng thần kinh sau phẫu thuật tim không hiếm gặp; ước tính tỷ lệ biến chứng kết hợp của hệ thần kinh trung ương (đột quỵ, bệnh não) là khoảng 6% (bảng 1).
Bệnh lý mạch máu não – Hầu hết các ca đột quỵ xảy ra trong bối cảnh phẫu thuật tim đều biểu hiện lâm sàng trong vòng 24 đến 48 giờ. Tỷ lệ mắc hiện chưa chắc chắn; các cơ sở dữ liệu phẫu thuật có thể đánh giá thấp đáng kể tỷ lệ đột quỵ so với dữ liệu thu thập từ các nghiên cứu lâm sàng nghiêm ngặt hoặc nghiên cứu dựa trên chẩn đoán hình ảnh. (Xem ‘Tỷ lệ mắc’ ở dưới.)
Phẫu thuật sửa van tim và phẫu thuật kết hợp bắc cầu động mạch vành (CABG) với sửa van tim, đặc biệt là các phẫu thuật liên quan đến van hai lá, dường như có nguy cơ đột quỵ cao hơn đáng kể so với phẫu thuật CABG đơn thuần.
Cơ chế gây đột quỵ thiếu máu cục bộ trong và sau phẫu thuật bao gồm: giảm tưới máu não, thuyên tắc từ động mạch này sang động mạch khác và thuyên tắc do tim. (Xem ‘Cơ chế nhồi máu não’ ở dưới.)
Các yếu tố nguy cơ xơ vữa động mạch truyền thống, tiền sử bệnh mạch máu não, và bệnh xơ vữa động mạch vành hoặc động mạch ngoại biên là những yếu tố nguy cơ dẫn đến đột quỵ thiếu máu cục bộ chu phẫu. (Xem ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
Xử trí đột quỵ thiếu máu cục bộ chu phẫu trong phẫu thuật tim tương tự như trong các bối cảnh khác, ngoại trừ việc chống chỉ định sử dụng thuốc hoạt hóa plasminogen mô (tPA) đường tĩnh mạch cho bệnh nhân sau phẫu thuật tim. (Xem ‘Xử trí’ ở dưới và “Đánh giá và xử trí ban đầu đột quỵ cấp”.)
Bệnh não – Tổn thương não lan tỏa sau phẫu thuật tim có thể biểu hiện dưới dạng sảng, co giật và đôi khi là hôn mê. Cơ chế gây ra biến chứng này có khả năng là đa yếu tố. Một số ít bệnh nhân sẽ có rối loạn chức năng nhận thức thần kinh kéo dài. Việc đánh giá ở những bệnh nhân này tập trung vào việc loại trừ biến cố mạch máu não cũng như các tình trạng nhiễm độc và chuyển hóa có thể đảo ngược. (Xem ‘Bệnh não’ ở dưới.)
Biến chứng thần kinh ngoại biên – Tổn thương thần kinh ngoại biên là một biến chứng không phổ biến. Các hội chứng cụ thể bao gồm:
- Bệnh đám rối cánh tay gây thiếu hụt vận động – cảm giác ở chi trên
- Bệnh dây thần kinh hoành dẫn đến phụ thuộc máy thở kéo dài
- Bệnh dây thần kinh liên sườn gây đau và dị cảm khu trú tại thành ngực bên
Hầu hết bệnh nhân đều cải thiện, mặc dù quá trình hồi phục đôi khi có thể mất nhiều tháng. (Xem ‘Bệnh lý thần kinh ngoại biên’ ở dưới.)
