TÓM TẮT
Định nghĩa
− Viêm teo niêm mạc dạ dày chuyển sản ruột (GIM) đặc trưng bởi sự thay thế biểu mô hố tuyến và tuyến trong niêm mạc vùng tuyến thân hoặc vùng hang vị bằng biểu mô kiểu ruột. (Xem ‘Thuật ngữ’ phía trên và ‘Phân loại’ phía trên).
Cơ chế bệnh sinh
− GIM là một giai đoạn tiền ung thư quan trọng trong chuỗi bệnh sinh ung thư dạ dày thông qua một loạt các tổn thương tiền thân được xác định rõ ràng và dễ nhận biết. Mô hình đa giai đoạn của ung thư biểu tuyến dạ dày, hay còn gọi là “chuỗi bệnh sinh Correa”, cho thấy sự kết hợp của các yếu tố di truyền và đáp ứng từ vật chủ, đặc điểm gene của vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori), cùng với sự điều hòa bởi các yếu tố chế độ ăn uống và môi trường, có xu hướng dẫn đến tình trạng viêm niêm mạc toàn bộ dạ dày ở giai đoạn sớm, từ đó có thể tiến triển tuần tự thành teo niêm mạc dạ dày, chuyển sản ruột, loạn sản và ung thư biểu tuyến. (Xem ‘ dịch tễ học và cơ chế bệnh sinh’ phía trên).
Nguy cơ ung thư dạ dày
− Bệnh nhân mắc GIM được cho là có nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn, nhưng nguy cơ tuyệt đối dường như ở mức vừa phải tại các khu vực có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày thấp (2,5 trường hợp trên 1.000 người-năm). Tuy nhiên, trong số các bệnh nhân GIM, nguy cơ ung thư dạ dày sẽ cao hơn ở những cá thể có diện tích chuyển sản rộng và dạng chuyển sản ruột không hoàn toàn. (Xem ‘Nguy cơ ung thư’ phía trên và ‘Phân loại’ phía trên).
Đặc điểm lâm sàng
− Nhìn chung, GIM không gây ra các triệu chứng đặc hiệu và thường được phát hiện tình cờ ở những bệnh nhân nội soi tiêu hóa trên vì chứng khó tiêu. Tuy nhiên, tình trạng này có liên quan đến việc giảm tiết acid dịch vị (hypochlorhydria), có thể làm tăng nguy cơ quá sản vi khuẩn ruột non với các triệu chứng như đầy hơi, khó chịu vùng bụng và tiêu chảy. Trên nội soi tiêu hóa trên, GIM có hình ảnh không đặc hiệu; niêm mạc tổn thương có thể sần sùi hoặc có dạng nhung mao, hoặc xuất hiện các mảng niêm mạc màu trắng, mỏng. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ phía trên).
Chẩn đoán
− Có thể nghi ngờ chẩn đoán GIM dựa trên các dấu hiệu nội soi, nhưng chẩn đoán xác định phải dựa vào mô bệnh học. Cần thực hiện nội soi chất lượng cao để nâng cao khả năng phát hiện tổn thương. Chúng tôi thực hiện nội soi tiêu hóa trên có sử dụng kỹ thuật tăng cường hình ảnh (ví dụ: nội soi dải tần ánh sáng hẹp – NBI) kết hợp sinh thiết có bản đồ (hình 1). (Xem ‘Chẩn đoán’ phía trên).
Phân tầng nguy cơ
− Bệnh nhân GIM được coi là có nguy cơ ung thư dạ dày cao nếu có bất kỳ yếu tố nào sau đây (xem ‘Phân loại’ phía trên và ‘Đánh giá nguy cơ ung thư’ phía trên):
- Tiền sử gia đình mắc ung thư dạ dày ở người thân cận huyết thống bậc một
- Chuyển sản ruột không hoàn toàn
- Chuyển sản ruột lan tỏa hoặc ở vùng thân vị
- Các nhóm thiểu số chủng tộc/sắc tộc tại Hoa Kỳ (bao gồm người Mỹ gốc Phi, người gốc Tây Ban Nha và người châu Á)
- Người nhập cư thế hệ đầu tiên từ các khu vực có tỷ lệ mắc bệnh cao (ví dụ: Đông Á, vùng núi Mỹ Latinh)
Việc xác định thể loại và mức độ lan rộng của GIM đòi hỏi phải lập bản đồ giải phẫu dạ dày (hình 1).
Quản lý và điều trị
− Các biện pháp chung nhằm làm giảm nguy cơ tiến triển của GIM thành ung thư dạ dày bao gồm bỏ hút thuốc lá, điều độ trong việc tiêu thụ rượu và tiệt trừ vi khuẩn H. pylori. Mặc dù việc tiệt trừ H. pylori không làm đảo ngược được tình trạng GIM, nhưng có thể làm chậm quá trình tiến triển thành ung thư dạ dày. (Xem ‘Các biện pháp chung cho tất cả bệnh nhân’ phía trên).
Đối với những cá thể mắc GIM nguy cơ cao, chúng tôi tiến hành nội soi tầm soát định kỳ với khoảng thời gian 3 năm một lần (sơ đồ 1). Đánh giá nội soi tầm soát bao gồm quan sát chi tiết bằng ống nội soi độ phân giải cao kết hợp các kỹ thuật tăng cường hình ảnh (ví dụ: NBI) nếu có chuyên môn tại chỗ, kết hợp với sinh thiết dạ dày theo bản đồ. (Xem ‘Quản lý’ phía trên).
