TÓM TẮT
Phương thức lây truyền
- HIV lây truyền qua quan hệ tình dục, tiếp xúc với máu nhiễm bệnh hoặc lây truyền từ mẹ sang con. Đối với mọi hình thức lây truyền, tải lượng virus càng cao ở người nhiễm HIV nguồn thì nguy cơ lây truyền càng lớn. (Xem ‘Phương thức lây truyền’ phía trên và ‘Viremia ở người nhiễm nguồn và HIV cấp tính’ phía trên.)
Nguy cơ lây truyền qua đường tình dục
- Nguy cơ lây truyền HIV qua đường tình dục thay đổi đáng kể tùy thuộc vào hình thức tiếp xúc. Nhìn chung, các hành vi gây tổn thương niêm mạc và chảy máu đi kèm nguy cơ cao hơn các hình thức tiếp xúc khác. Quan hệ tình dục qua đường hậu môn không được bảo vệ có xác suất lây truyền HIV cao nhất, trong khi quan hệ tình dục bằng miệng có xác suất thấp nhất. Chưa cắt bao quy đầu liên quan đến nguy cơ nhiễm HIV ở nam giới; đồng thời, tình trạng mắc đồng thời các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) liên quan đến cả việc truyền bệnh và nhiễm bệnh. Các yếu tố hành vi khác, như sử dụng bao cao su, số lượng bạn tình và quan hệ tình dục khi sử dụng chất kích thích, cũng ảnh hưởng đến nguy cơ lây truyền HIV tổng thể. (Xem ‘Các yếu tố nguy cơ lây truyền qua đường tình dục’ phía trên.)
Nguy cơ lây truyền qua đường máu
- Nguy cơ lây truyền HIV qua đường máu phụ thuộc vào thể tích máu nhiễm bệnh mà cá nhân tiếp xúc và độ sâu của vết thương hoặc hình thức tiếp xúc (ví dụ: tiếp xúc qua niêm mạc, tổn thương do kim đâm hoặc tiêm trực tiếp vào mạch máu). (Xem ‘Các yếu tố nguy cơ lây truyền qua đường máu’ phía trên.)
Chiến lược phòng ngừa
- Cách tiếp cận toàn diện trong phòng ngừa HIV bao gồm các chiến lược hành vi (ví dụ: các chiến lược giảm hại như sử dụng bao cao su, liệu pháp thay thế opioid, chương trình trao đổi kim tiêm), các chiến lược dựa trên thuốc kháng retrovirus (ARV), tầm soát và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs), và ở một số khu vực, là cắt bao quy đầu.
Can thiệp hành vi
- Các can thiệp hành vi (như sử dụng bao cao su và tư vấn giảm nguy cơ liên quan đến việc sử dụng chất gây nghiện) vẫn là yếu tố then chốt trong phòng ngừa HIV. Ngoài ra, việc duy trì sử dụng bao cao su vẫn hữu ích để giảm nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. (Xem ‘Sử dụng bao cao su’ phía trên và ‘Tư vấn và các chiến lược giảm hại’ phía trên.)
Liệu pháp kháng retrovirus (ART)
- Các chiến lược dựa trên thuốc kháng retrovirus nhằm giảm lây truyền HIV là cần thiết cho cả người có HIV và người chưa nhiễm HIV.
Người nhiễm HIV
- Đối với người nhiễm HIV, liệu pháp kháng retrovirus (ART) thành công là chiến lược trọng tâm để ngăn ngừa lây truyền. Nguy cơ lây truyền HIV từ một cá nhân nhiễm HIV đã đạt được mức ức chế virus ổn định sang bạn tình chưa nhiễm HIV là không đáng kể. (Xem ‘Người nhiễm HIV’ phía trên và ‘Điều trị như một phương pháp phòng ngừa’ phía trên.)
Người có nguy cơ nhiễm HIV
- Các chiến lược dựa trên thuốc kháng retrovirus dành cho người chưa nhiễm HIV cũng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm HIV. Các phương pháp này bao gồm dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) cho những người có nguy cơ thường xuyên, và dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) cho những người đã có tiếp xúc qua niêm mạc hoặc đường máu với HIV trong vòng 72 giờ trước đó. (Xem ‘Người có nguy cơ nhiễm HIV’ phía trên; “Tầm soát và xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV ở người lớn”; “Quản lý phơi nhiễm ngoài môi trường nghề nghiệp với HIV và viêm gan B, C ở người lớn”; và “Dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP)”.)
Tiếp cận đối với các cặp đôi có tình trạng huyết thanh khác biệt (serodiscordant)
- Đối với các cặp đôi có tình trạng huyết thanh khác biệt, chúng tôi khuyến cáo điều trị bằng thuốc kháng retrovirus cho người bạn tình nhiễm HIV như là chiến lược phòng ngừa chính thay vì chỉ sử dụng thuốc dự phòng cho người bạn tình chưa nhiễm HIV (Khuyến cáo 1A). Dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) cho người bạn tình chưa nhiễm HIV được chỉ định bổ sung cho đến khi người bạn tình nhiễm HIV đạt được mức ức chế virus ổn định thông qua ART (thường là sáu tháng sau khi bắt đầu điều trị), hoặc nếu ART thất bại trong việc ức chế virus ở người nhiễm HIV vì bất kỳ lý do gì, hoặc khi có các hành vi nguy cơ bên ngoài mối quan hệ. Việc quản lý các cặp đôi có tình trạng huyết thanh khác biệt mong muốn mang thai được thảo luận ở một phần khác. (Xem ‘Các cặp đôi có tình trạng huyết thanh khác biệt’ phía trên.)
Tầm soát HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác
- Đối với các cá nhân có nguy cơ, việc tầm soát HIV định kỳ và duy trì ngưỡng xét nghiệm thấp là rất quan trọng để phát hiện sớm các ca nhiễm HIV mới và đưa bệnh nhân vào các chương trình can thiệp nhằm ngăn chặn sự lây truyền HIV.
- Chúng tôi cũng thực hiện tầm soát và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác ở những người nhiễm hoặc có nguy cơ nhiễm HIV, do các yếu tố nguy cơ chung giữa HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, mối liên quan giữa các bệnh này với nhiễm HIV, cũng như lợi ích của việc điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục ngoài mục đích phòng ngừa HIV tiềm năng. (Xem ‘Điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục’ phía trên.)
Cắt bao quy đầu
- Cắt bao quy đầu đã được chứng minh hiệu quả trong việc giảm nguy cơ nhiễm HIV ở nam giới dị tính, tuy nhiên lợi ích đối với nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) vẫn chưa rõ ràng. Tại những khu vực có tỷ lệ hiện mắc HIV cao và đường lây truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục khác giới, chẳng hạn như tại một số quốc gia châu Phi, cắt bao quy đầu y tế tự nguyện có thể là một thành phần hiệu quả trong các can thiệp phòng ngừa HIV. (Xem ‘Cắt bao quy đầu ở nam giới’ phía trên.)
