Tổng quan về tiếp cận bệnh nhân sống sót sau ung thư tuyến tiền liệt

TÓM TẮT

Tiếp cận chung

Sau điều trị, bệnh nhân sống sót sau ung thư tuyến tiền liệt cần được đánh giá về các di chứng liên quan đến điều trị và sự tiến triển của bệnh, bên cạnh việc chăm sóc sức khỏe tổng quát và phòng ngừa định kỳ. Các chuyên gia ung thư (bác sĩ tiết niệu, bác sĩ ung thư nội khoa và/hoặc ung thư xạ trị) và bác sĩ chăm sóc ban đầu (PCP) cần trao đổi rõ ràng về trách nhiệm quản lý các khía cạnh khác nhau trong việc giám sát sau điều trị để tránh trùng lặp công việc. (Xem ‘Phối hợp chăm sóc theo dõi’ ở dưới.)

Các nguyên tắc chung dẫn dắt việc theo dõi bệnh nhân sống sót sau ung thư tuyến tiền liệt bao gồm:

  • Thực hiện các xét nghiệm phù hợp để theo dõi sự tiến triển và/hoặc tái phát của bệnh.
  • Giám sát định kỳ chất lượng cuộc sống, sử dụng các công cụ chuẩn hóa gồm một trang nhằm đánh giá các khía cạnh: tiết niệu, tình dục, tiêu hóa và sức sống (ví dụ: Chỉ số tổng hợp EPІC mở rộng trong thực hành lâm sàng [EPІC-CP]). (Xem ‘Các nguyên tắc chung dẫn dắt việc theo dõi’ ở dưới.)
  • Đánh giá các di chứng tiềm tàng do điều trị. Việc này nên bao gồm đánh giá thường xuyên và liên tục về rối loạn chức năng tình dục, bao gồm cả việc đánh giá bạn tình (nếu bệnh nhân có bạn tình) và chuyển tuyến đến chuyên gia sức khỏe tình dục nếu cần thiết. Các khuyến nghị về sàng lọc và đánh giá rối loạn chức năng tình dục ở nam giới sống sót sau ung thư được cung cấp ở phần riêng. (Xem “Tổng quan về rối loạn chức năng tình dục ở nam giới sống sót sau ung thư”, phần ‘Bộ câu hỏi sức khỏe tình dục’.)
  • Khuyến khích lối sống lành mạnh (chế độ ăn uống, tập thể dục, hạn chế rượu bia, cai thuốc lá).

Di chứng liên quan đến điều trị

Mối quan tâm hàng đầu của bệnh nhân sống sót sau ung thư tuyến tiền liệt là chức năng tình dục và mối liên quan của nó với hình ảnh bản thân, lòng tự trọng và bản lĩnh phái mạnh. Trong hầu hết các trường hợp, chức năng tình dục có khả năng bị thay đổi vĩnh viễn sau bất kỳ hình thức điều trị ung thư tuyến tiền liệt nào. (Xem ‘Rối loạn chức năng tình dục’ ở dưới.)

Ở nam giới điều trị ung thư tuyến tiền liệt khu trú, tình trạng són tiểu sau cắt tuyến tiền liệt thường nặng nhất ngay sau phẫu thuật và có xu hướng cải thiện dần trong một hoặc hai năm đầu (bảng 5). Nếu tình trạng són tiểu xảy ra sau xạ trị (RT), đây thường là biểu hiện muộn. (Xem ‘Rối loạn chức năng tiết niệu’ ở dưới.)

Các vấn đề về tiêu hóa (viêm trực tràng, viêm ruột, chảy máu, mót rặn) phổ biến sau xạ trị hơn nhiều so với sau phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt. Xạ trị vùng chậu có thể liên quan đến độc tính đường tiêu hóa cả giai đoạn sớm và muộn. (Xem ‘Rối loạn chức năng đại tràng và chảy máu tiêu hóa’ ở dưới.)

Nhiều nam giới điều trị ung thư tuyến tiền liệt sẽ được chỉ định liệu pháp khử androgen (ADT), ngắn hạn trong quá trình điều trị bệnh khu trú, hoặc dài hạn đối với bệnh tiến triển. (Xem ‘Tổng quan về các lựa chọn điều trị ung thư tuyến tiền liệt’ ở dưới.)

Nam giới đang điều trị ADT thường được theo dõi bởi bác sĩ chuyên khoa ung thư (tiết niệu, xạ trị và/hoặc ung thư nội khoa), nhưng bác sĩ chăm sóc ban đầu (PCP) cần hiểu rõ các tác dụng phụ có thể xảy ra và tác động tiềm tàng của ADT lên các bệnh lý nền đi kèm. Nhiều tác dụng phụ của ADT thường có thể được giảm thiểu thành công bằng nhiều phương pháp khác nhau; trong đó, việc tập thể dục thường xuyên giúp cải thiện nhiều tác dụng phụ của ADT hơn bất kỳ phương pháp nào khác. (Xem ‘Tổng quan về các tác dụng phụ chính cụ thể’ ở dưới.)

Bệnh tim mạch (CVD) phổ biến hơn ở nam giới mắc ung thư tuyến tiền liệt và là nguyên nhân gây tử vong do không phải ung thư phổ biến nhất ở những bệnh nhân sống sót sau ung thư. Ở nam giới có sẵn bệnh tim mạch, bác sĩ phải đảm bảo việc chăm sóc tim mạch đầy đủ trước khi bắt đầu điều trị ADT. Một công cụ sàng lọc đơn giản mang tên STAMP giúp xác định những nam giới có nguy cơ CVD cao nhất bằng cách đánh giá xem bệnh nhân có tiền sử:

  • Stroke (Đột quỵ);
  • Transient ischemic attack (Cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua);
  • Abdominal aortic aneurysm hoặc các bệnh động mạch chủ khác (Phình động mạch chủ bụng hoặc các bệnh động mạch chủ khác);
  • Myocardial infarction, angina, hoặc tiền sử can thiệp tái thông mạch máu (Nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực, hoặc tiền sử tái thông mạch máu); hoặc
  • Peripheral vascular disease (Bệnh mạch máu ngoại biên).

Liệu pháp thay thế testosterone

Đối với nam giới có triệu chứng suy tuyến sinh dục và có tiền sử ung thư tuyến tiền liệt, việc sử dụng liệu pháp thay thế testosterone (TRT) vẫn còn gây tranh cãi. Mặc dù có những lo ngại về mặt lý thuyết rằng testosterone có thể kích thích sự phát triển của ung thư, nhưng hiện vẫn thiếu các dữ liệu lâm sàng chất lượng cao để chứng minh nỗi lo này. Theo quan điểm của chúng tôi, việc cùng đưa ra quyết định (shared decision making) dựa trên các đặc điểm bệnh lý cá thể, cũng như giá trị và nguyện vọng của bệnh nhân là phương án phù hợp. Một người đàn ông từng điều trị ung thư tuyến tiền liệt khu trú và có chỉ số kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) không phát hiện được có thể quyết định rằng lợi ích tiềm tàng của TRT lớn hơn rủi ro. Ngược lại, một người đang theo dõi chủ động và lo lắng về khả năng tiến triển của bệnh theo thời gian có thể quyết định rằng các rủi ro lý thuyết của TRT lớn hơn lợi ích. Nhìn chung, đối với nam giới mắc bệnh tiến triển/di căn đang điều trị ADT, chúng tôi đề xuất không sử dụng TRT (Khuyến cáo 2C); mục tiêu của ADT ở những bệnh nhân này là đạt được nồng độ testosterone huyết thanh ở mức triệt tinh. (Xem ‘Suy tuyến sinh dục và thay thế testosterone’ ở dưới.)

Theo dõi ung thư sau điều trị

Đánh giá PSA huyết thanh định kỳ là phương pháp chính trong việc theo dõi ở nam giới đã qua điều trị triệt để ung thư tuyến tiền liệt khu trú và ở những bệnh nhân mắc bệnh tiến triển hơn. Đối với nam giới điều trị bệnh khu trú, các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như xạ hình xương, siêu âm qua trực tràng, cộng hưởng từ (MRI) tuyến tiền liệt, cắt lớp vi tính (CT) và chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) không có vai trò trong sàng lọc tái phát nếu không có sự gia tăng PSA huyết thanh hoặc các triệu chứng đặc hiệu. Các khuyến nghị cụ thể được cung cấp ở phần riêng. (Xem “Theo dõi sau điều trị triệt để tại chỗ cho ung thư tuyến tiền liệt”.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here