TÓM TẮT
Đối tượng điều trị – Tất cả bệnh nhân có bằng chứng nhiễm Helicobacter pylori hoạt động nên được chỉ định điều trị (bảng 1). (Xem thêm “Tiếp cận chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori ở người trưởng thành”, phần ‘Chỉ định xét nghiệm’.)
Xử trí ban đầu
- Tư vấn trước điều trị – Chúng tôi tư vấn cho tất cả bệnh nhân về lý do điều trị, tầm quan trọng của việc tuân thủ phác đồ và cách quản lý các tác dụng phụ thường gặp. (Xem thêm ‘Tư vấn trước điều trị’ ở dưới.)
- Các lưu ý chính – Việc lựa chọn phác đồ cần căn cứ vào đặc điểm kháng kháng sinh của H. pylori tại địa phương và khả năng ức chế acid dạ dày hiệu quả. Ngoài ra, chúng tôi cũng xem xét chi phí, sự thuận tiện khi dùng thuốc, tiền sử sử dụng kháng sinh, các tiền sử dị ứng và khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân. (Xem thêm ‘Đảm bảo thành công trong điều trị’ ở dưới.)
- Ưu tiên phác đồ bốn thuốc chứa Bismuth (BQT) – Đối với những bệnh nhân chưa từng điều trị nhiễm H. pylori, chúng tôi đề xuất điều trị kinh nghiệm bằng phác đồ BQT tối ưu (bảng 2) (Khuyến cáo 2C). Phác đồ BQT tối ưu kéo dài từ 10 đến 14 ngày, bao gồm: bismuth subsalicylate liều cao, metronidazole 500 mg (3 hoặc 4 lần/ngày), tetracycline và một thuốc ức chế bơm proton (PPI) (2 lần/ngày).
Phác đồ ba thuốc rifabutin liều thấp và phác đồ đôi vonoprazan-amoxicillin là những lựa chọn thay thế hợp lý. (Xem thêm ‘Ưu tiên phác đồ bốn thuốc chứa Bismuth’ và ‘Các phác đồ thay thế’ ở dưới.)
- Tránh điều trị kinh nghiệm với clarithromycin và levofloxacin – Chúng tôi không sử dụng các phác đồ chứa clarithromycin và levofloxacin để điều trị kinh nghiệm. Các phác đồ này có tỷ lệ diệt trừ H. pylori thấp hơn tại Hoa Kỳ và các khu vực có tỷ lệ kháng clarithromycin và levofloxacin cao. (Xem thêm ‘Tránh điều trị kinh nghiệm chứa clarithromycin hoặc levofloxacin’ ở dưới.)
- Xác nhận diệt trừ – Tất cả bệnh nhân cần được thực hiện xét nghiệm để xác nhận đã diệt trừ H. pylori. Chúng tôi thường chỉ định xét nghiệm hơi thở urea, xét nghiệm kháng nguyên trong phân hoặc nội soi dạ dày ít nhất 4 tuần sau khi hoàn tất điều trị; đồng thời yêu cầu ngưng sử dụng PPI hoặc thuốc chẹn acid cạnh tranh kali trong 2 tuần trước khi xét nghiệm. (Xem thêm ‘Xác nhận diệt trừ (“test of cure”)’ ở dưới và “Tiếp cận chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori ở người trưởng thành”, phần ‘Tiếp cận xét nghiệm chẩn đoán ban đầu’.)
- Nhiễm H. pylori dai dẳng – Tất cả bệnh nhân vẫn còn nhiễm H. pylori sau điều trị ban đầu cần được điều trị lại bằng một phác đồ cứu vãn khác với các phác đồ trước đó và phải kết hợp với liệu pháp ức chế acid mạnh. (Xem thêm ‘Các lưu ý chính’ ở dưới.)
Tiền sử điều trị bằng một phác đồ đơn lẻ – Đối với những bệnh nhân đã trải qua một liệu trình điều trị H. pylori trước đó (sơ đồ 1 và bảng 3) (xem ‘Tiền sử điều trị bằng một phác đồ đơn lẻ’ ở dưới):
- Chưa từng dùng BQT – Bệnh nhân chưa từng điều trị bằng BQT hoặc đã dùng phác đồ BQT không tối ưu nên được chỉ định phác đồ BQT tối ưu. (Xem thêm ‘Chưa từng điều trị bằng phác đồ bốn thuốc chứa Bismuth’ ở dưới.)
- Đã từng dùng BQT – Ở những bệnh nhân mà liệu trình điều trị trước đó bao gồm BQT tối ưu, chúng tôi thường chọn phác đồ đôi vonoprazan-amoxicillin hoặc phác đồ ba thuốc rifabutin cho những người không dị ứng penicillin.
Đối với bệnh nhân dị ứng penicillin đã dùng BQT tối ưu, chúng tôi đề xuất lựa chọn phác đồ cứu vãn dựa trên kết quả kháng sinh đồ (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Đã từng điều trị bằng phác đồ bốn thuốc chứa Bismuth’ ở dưới.)
Tiền sử điều trị bằng nhiều phác đồ – Đối với những bệnh nhân đã trải qua hai hoặc nhiều liệu trình điều trị, chúng tôi đề xuất lựa chọn phác đồ cứu vãn dựa trên kết quả kháng sinh đồ (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Tiền sử điều trị bằng nhiều hơn một phác đồ’ ở dưới và “Tiếp cận chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori ở người trưởng thành”, phần ‘Xét nghiệm kháng sinh đồ’.)
