Các rối loạn đông máu di truyền hiếm gặp

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Bối cảnh

Đặc điểm lâm sàng

  • Triệu chứng xuất huyết chiếm ưu thế, đặc biệt là trong các trường hợp rụng dây rốn, hành kinh, chấn thương, thủ thuật xâm lấn và thời kỳ hậu sản. Xuất huyết khớp và chảy máu cam rất thường gặp. Khởi phát thường ở tuổi thơ âu nhưng có thể dao động đáng kể. Xuất huyết ít gặp hơn ở người dị hợp tử, thường xuất hiện khi đối mặt với các thử thách cầm máu lớn hơn (bảng 2). Thiếu hụt yếu tố XIII làm suy yếu quá trình lành vết thương. Thiếu hụt yếu tố XIII và X gây sảy thai sớm. Thiếu hụt yếu tố VII và V (và có thể cả yếu tố II) có thể gây huyết khối. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới).

Xét nghiệm

  • Các xét nghiệm đông máu có thể kéo dài nếu hoạt độ yếu tố <20% (bảng 3). Vị trí của yếu tố trong con đường đông máu (hình 2) quyết định xét nghiệm nào sẽ bị ảnh hưởng. Yếu tố XIII liên kết ngang fibrin; tình trạng thiếu hụt yếu tố này không làm kéo dài thời gian prothrombin (PT) hoặc thời gian thromboplastin phần từng hoạt hóa (aPTT). (Xem ‘Kết quả xét nghiệm’ ở dưới).

Đánh giá

  • Tất cả bệnh nhân nghi ngờ rối loạn đông máu cần được khai thác tiền sử đầy đủ (các thách thức cầm máu, biểu hiện xuất huyết). Nguồn gốc gia đình và khả năng hôn nhân cận huyết có thể có ý nghĩa liên quan. Xét nghiệm ban đầu bao gồm PT, aPTT và số lượng tiểu cầu. Đo hoạt độ các yếu tố khi PT hoặc aPTT bị kéo dài và/hoặc có nguyên nhân khác nghi ngờ thiếu hụt (tiền sử xuất huyết dương tính và/hoặc tiền sử gia đình). Trẻ sơ sinh được xét nghiệm sau khi sinh. Các thủ thuật xâm lấn cần được hoãn lại cho đến khi xác định được chẩn đoán. Xét nghiệm di truyền thích hợp cho một số đối tượng. Chẩn đoán được xác định khi hoạt độ yếu tố giảm thấp (thường là ≤50%) không do chất ức chế gây ra. (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới).

Điều trị xuất huyết

  • Liệu pháp điều trị phụ thuộc vào mức độ nặng của xuất huyết và các chế phẩm yếu tố sẵn có. Ý kiến tư vấn sớm từ bác sĩ chuyên khoa là rất quan trọng. (Xem ‘Các khía cạnh chung trong quản lý’ ở dưới).
  • Phương pháp điều trị cốt lõi là bổ sung nhanh chóng yếu tố đông máu (bảng 4). Khả năng tiếp cận các chế phẩm yếu tố đặc hiệu khác nhau tùy theo cơ sở y tế. Các lựa chọn theo thứ tự ưu tiên bao gồm: cô đặc đơn yếu tố, tiếp theo là phức hợp prothrombin cô đặc (PCC) nếu chứa yếu tố bị thiếu (bảng 6), tiếp theo là sản phẩm huyết tương như huyết tương tươi đông lạnh (FFP; loại đã xử lý dung môi/chất tẩy rửa [S/D] nếu có). Huyết tương rã đông không đủ tiêu chuẩn để làm nguồn cung cấp duy nhất cho yếu tố V và VIII, và việc sử dụng ở trẻ sơ sinh chưa được đánh giá đầy đủ. (Xem ‘Xuất huyết cấp tính’ ở dưới, ‘Thủ thuật xâm lấn/phẫu thuật’ ở dưới và ‘Các sản phẩm huyết tương’ ở dưới).
  • Có thể sử dụng thuốc kháng tiêu sợi huyết kết hợp với việc thay thế yếu tố trong các trường hợp xuất huyết nặng, hoặc dùng đơn độc trong các trường hợp xuất huyết nhẹ hơn, đặc biệt là xuất huyết niêm mạc như rong kinh nặng hoặc chảy máu răng lợi. (Xem ‘Rong kinh nặng và thai kỳ’ ở dưới và ‘Các thuốc kháng tiêu sợi huyết’ ở dưới).

Dự phòng xuất huyết

Các can thiệp khác

Tài nguyên

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here