Điều trị hệ thống bước hai và các bước sau cho ung thư tụy ngoại tiết di căn

TÓM TẮT

Liệu pháp toàn thân hàng thứ hai và các tuyến sau cho bệnh ung thư biểu tuyến tụy di căn

  • Liệu pháp toàn thân hàng thứ hai và các tuyến sau cho bệnh ung thư biểu tuyến tụy di căn sẽ được trình bày tại đây. Liệu pháp toàn thân có thể làm giảm khối u, cải thiện các triệu chứng liên quan đến bệnh và kéo dài thời gian sống còn toàn bộ (OS). Mục tiêu của liệu pháp toàn thân mang tính chất giảm nhẹ chứ không nhằm mục đích chữa khỏi. Khuyến khích bệnh nhân tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng nếu có sẵn. Những bệnh nhân không đủ điều kiện (hoặc quyết định không tiếp tục) nhận liệu pháp toàn thân có thể được cân nhắc chăm sóc giảm nhẹ tối ưu. (Xem “Chăm sóc hỗ trợ cho bệnh ung thư biểu tuyến tụy tiến triển tại chỗ hoặc di căn”).

Tổng quan về liệu pháp toàn thân ban đầu cho bệnh ung thư biểu tuyến tụy di căn được thảo luận ở một phần riêng biệt. (Xem “Liệu pháp toàn thân ban đầu cho bệnh ung thư biểu tuyến tụy di căn”).

Các khối u có đột biến phân tử có thể điều trị đích

  • Khối u có đột biến KRAS G12C dương tính
    • Đối với bệnh nhân có khối u mang đột biến KRAS G12C tiến triển sau hóa trị ban đầu, chúng tôi đề nghị liệu pháp hàng thứ hai bằng thuốc ức chế KRAS G12C là adagrasib (Khuyến cáo 2C), tuy nhiên sotorasib cũng là một lựa chọn có thể chấp nhận được. (Xem ‘Khối u đột biến KRAS G12C’ ở dưới).
  • Khối u có đột biến BRAF V600E dương tính
    • Đối với bệnh nhân có khối u mang đột biến BRAF V600E tiến triển sau hóa trị ban đầu, chúng tôi đề nghị liệu pháp hàng thứ hai bằng sự kết hợp dabrafenib và trametinib thay vì hóa trị đơn thuần (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Khối u đột biến BRAF V600E’ ở dưới).
  • Khối u dung hợp Neuregulin 1 (NRG1) dương tính
  • Khối u dương tính với HER2
    • Đối với bệnh nhân có khối u dương tính với thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì người 2 (HER2) (miễn dịch hóa mô học [IHC] 3+) tiến triển sau nhiều tuyến điều trị toàn thân và không còn phương pháp điều trị nào khác thỏa đáng, fam-trastuzumab deruxtecan là một lựa chọn cho liệu pháp các tuyến sau. (Xem ‘Khối u dương tính với HER2’ ở dưới).
  • Các đột biến phân tử khác
    • Đối với bệnh nhân có tất cả các đột biến có thể điều trị đích khác nhưng tiến triển sau liệu pháp toàn thân ban đầu, chúng tôi tiến hành đánh giá và điều trị hướng tới các đột biến phân tử thay thế có thể điều trị đích. Nếu không tìm thấy đột biến phân tử nào khác có thể điều trị đích, chúng tôi chỉ định hóa trị theo phác đồ tương tự như nhóm bệnh nhân không có đột biến đích, đồng thời cân nhắc dựa trên việc bệnh nhân đã được hóa trị trước đó hay chưa.
  • Biến thể gây bệnh BRCA1/2 hoặc PALB2
  • Biến thể gây bệnh thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng (HRD) không cốt lõi
  • Thiếu hụt hệ thống sửa chữa sai sót DNA (dMMR) / Vi vệ tinh mất ổn định cao (khối u MSI-H)
  • Khối u dung hợp thụ thể tyrosine kinase thần kinh hướng nguồn gốc (NTRK) dương tính
  • Khối u dung hợp qua tái sắp xếp trong quá trình chuyển nạp (RET) dương tính

Không có đột biến phân tử nào có thể điều trị đích

  • Đối với bệnh nhân có khối u không mang đột biến phân tử có thể điều trị đích và bệnh tiến triển sau hóa trị ban đầu, việc lựa chọn liệu pháp hàng thứ hai và các tuyến sau dựa trên phác đồ đã sử dụng trong điều trị ban đầu, cũng như trạng thái thể trạng (Performance Status – PS) theo Nhóm Hợp tác Ung thư Lâm sàng miền Đông (ECOG) (bảng 1) và chức năng đường mật. Nhìn chung, bệnh nhân nên được điều trị bằng các tác nhân chưa từng được sử dụng trong liệu pháp toàn thân ban đầu. (Xem ‘Không có đột biến phân tử nào có thể điều trị đích’ ở dưới).

Thể trạng ECOG PS tốt, không tăng bilirubin máu

  • Đối với bệnh nhân có điểm ECOG PS từ 0 đến 1 (bảng 1), nồng độ tổng bilirubin trong máu dưới 1,5 lần giới hạn trên của mức bình thường (ULN), và có hồ sơ bệnh đồng mắc thuận lợi (bảng 6), cách tiếp cận điều trị hàng thứ hai của chúng tôi như sau:
  • Đã điều trị trước đó bằng FOLFIRINOX hoặc NALIRIFOX
  • Đã điều trị trước đó bằng gemcitabine kết hợp nab-paclitaxel

Thể trạng ECOG PS bằng 2, không tăng bilirubin máu

  • Đối với bệnh nhân có điểm ECOG PS bằng 2, tổng bilirubin dưới 1,5 lần ULN, và có hồ sơ bệnh đồng mắc thuận lợi (bảng 6) nhưng bệnh tiến triển sau hóa trị ban đầu, chúng tôi lựa chọn phác đồ chưa từng được sử dụng trước đó. (Xem ‘ECOG PS 2, không tăng bilirubin máu’ ở dưới).
  • Đã điều trị trước đó bằng gemcitabine kết hợp nab-paclitaxel
  • Đã điều trị trước đó bằng phác đồ có chứa fluoropyrimidine

Các phác đồ kết hợp này có thể được dùng kèm theo việc chủ động điều chỉnh liều lượng thuốc và lịch trình nhằm giảm thiểu độc tính. Đối với bệnh nhân không thể dung nạp liệu pháp kết hợp, chúng tôi có ngưỡng chỉ định rất thấp để chuyển sang đơn trị liệu chưa từng dùng trước đó, chẳng hạn như gemcitabine, fluoropyrimidine và paclitaxel.

Thể trạng ECOG PS từ 0 đến 2 kèm tăng bilirubin máu

  • Đối với bệnh nhân có điểm ECOG PS từ 0 đến 2 và tổng bilirubin huyết thanh lớn hơn hoặc bằng 1,5 lần ULN, các lựa chọn ưu tiên cho liệu pháp hàng thứ hai là FOLFOX và FU kết hợp LV, nếu chưa được sử dụng trước đó. (Xem ‘ECOG PS từ 0 đến 2 kèm tăng bilirubin máu’ ở dưới).

Thể trạng kém và/hoặc nhiều bệnh lý đi kèm đáng kể

  • Những bệnh nhân có điểm ECOG PS từ 3 đến 4 và/hoặc các tình trạng bệnh lý đi kèm chưa được kiểm soát tốt nên được chăm sóc hỗ trợ, bất kể có hay không có sự hiện diện của đột biến phân tử có thể điều trị đích. Liệu pháp toàn thân chỉ nên được chỉ định dựa trên việc đánh giá cá thể hóa cho từng trường hợp cụ thể. (Xem ‘Thể trạng kém và/hoặc nhiều bệnh lý đi kèm đáng kể’ ở dưới).

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here