TÓM TẮT
Tỷ lệ mắc và các yếu tố nguy cơ
Các biến cố đường thở và hô hấp (ví dụ: co thắt thanh quản, co thắt phế quản, hít sặc và viêm thanh khí phế quản chu phẫu) là những biến chứng chu phẫu thường gặp nhất ở bệnh nhi. (Xem ‘Tỷ lệ mắc các biến chứng liên quan đến đường thở’ ở dưới.)
Các yếu tố nguy cơ dẫn đến biến chứng đường thở nghiêm trọng bao gồm độ tuổi rất nhỏ và phải đặt nội khí quản nhiều lần. (Xem ‘Tỷ lệ mắc các biến chứng liên quan đến đường thở’ ở dưới.)
Giảm oxy máu
Giảm oxy máu có thể xảy ra nhanh chóng trong quá trình quản lý đường thở, có thể dẫn đến nhịp chậm và ngưng tim, đặc biệt là ở trẻ nhũ nhi. (Xem ‘Giảm oxy máu’ ở dưới.)
Co thắt thanh quản
Co thắt thanh quản thường gặp ở trẻ em hơn so với người lớn, và có thể xảy ra trong giai đoạn khởi mê, duy trì mê hoặc thoát mê. (Xem ‘Co thắt thanh quản’ ở dưới.)
Biện pháp dự phòng quan trọng nhất là tránh thao tác lên đường thở khi bệnh nhân đang ở giai đoạn mê nông.
Điều trị bao gồm cho thở oxy 100% bằng áp lực dương liên tục, áp lực tại điểm co thắt thanh quản (hình 1), làm sâu thêm mức độ mê, và nếu cần thiết, sử dụng succinylcholine (phác đồ 1). (Xem ‘Xử trí co thắt thanh quản’ ở dưới.)
Co thắt phế quản
Co thắt phế quản có thể xảy ra trong quá trình gây mê do kích thích từ thiết bị đường thở, hít sặc dịch dạ dày, phản vệ, hoặc do bệnh lý đường thở tăng phản ứng sẵn có. (Xem ‘Co thắt phế quản’ ở dưới.)
Hít sặc
Hít sặc dịch dạ dày là một biến chứng hiếm gặp, có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình gây mê. Nếu nghi ngờ hít sặc, việc xử trí ban đầu nên bao gồm các bước sau (xem ‘Xử trí hít sặc’ ở dưới):
- Hút dịch vùng khẩu hầu
- Cho thở oxy 100% qua mặt nạ
- Đánh giá và điều trị co thắt phế quản và co thắt thanh quản
- Trường hợp hít phải các hạt kích thước lớn, cần gọi hỗ trợ để chuẩn bị nội soi phế quản
Việc xử trí tiếp theo và hướng xử trí sau đó phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu và triệu chứng. (Xem ‘Tiên lượng và hướng xử trí sau hít sặc’ ở dưới.)
Viêm thanh khí phế quản sau đặt nội khí quản
Viêm thanh khí phế quản có thể xảy ra sau khi đặt nội khí quản do phù nề và viêm tại chỗ gây ra bởi áp lực của ống nội khí quản (ETT) lên các cấu trúc thanh quản hoặc dưới thanh môn. (Xem ‘Dự phòng viêm thanh khí phế quản sau đặt nội khí quản’ ở dưới.)
Biện pháp dự phòng quan trọng nhất là sử dụng ống nội khí quản có kích thước phù hợp.
Điều trị viêm thanh khí phế quản sau đặt nội khí quản bao gồm dùng dexamethasone 0,6 mg/kg đường tĩnh mạch (IV), tối đa 10 mg (nếu chưa được dùng trong phẫu thuật), và nếu cần thiết, dùng epinephrine dạng khí dung. (Xem ‘Điều trị viêm thanh khí phế quản sau đặt nội khí quản’ ở dưới.)
Trẻ được dùng epinephrine khí dung cần được theo dõi tại bệnh viện ít nhất từ ba đến bốn giờ sau khi dùng thuốc. Những trẻ cần dùng thêm các liều epinephrine tiếp theo như trên cần được nhập viện để tiếp tục theo dõi và điều trị. (Xem ‘Hướng xử trí sau viêm thanh khí phế quản sau đặt nội khí quản’ ở dưới.)