Chảy máu tử cung bất thường ở trẻ vị thành niên: Đánh giá và tiếp cận chẩn đoán

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Thuật ngữ – Xuất huyết tử cung bất thường (AUB) là tình trạng chảy máu kinh nguyệt nằm ngoài phạm vi bình thường, bao gồm: vô kinh, kinh nguyệt không đều, cường kinh (ra máu nhiều) và chảy máu giữa chu kỳ.

“Xuất huyết tử cung không rụng trứng” là thuật ngữ ưu tiên dùng cho tình trạng ra máu nhiều không theo chu kỳ, không liên quan đến các tổn thương thực thể tại tử cung hoặc bệnh lý hệ thống. (Xem thêm ‘Xuất huyết tử cung bất thường’ ở dưới.)

Nguyên nhân – Trẻ vị thành niên gặp tình trạng AUB thường đến khám với lý do “chảy máu âm đạo” bất thường. Tử cung là nguồn gây chảy máu âm đạo phổ biến nhất (bảng 1). Xuất huyết tử cung không rụng trứng do sự chưa trưởng thành của trục hạ đồi – tuyến yên – buồng trứng (HPO) là nguyên nhân thường gặp nhất gây AUB ở trẻ vị thành niên không mang thai trong một đến hai năm đầu sau khi có kinh lần đầu. (Xem thêm ‘Nguồn gốc của xuất huyết tử cung bất thường’ ở dưới.)

Phân loại và sàng lọc – Bước sàng lọc ban đầu cho trẻ vị thành niên nghi ngờ xuất huyết tử cung bất thường bao gồm đánh giá sự ổn định về huyết động và tình trạng mang thai. (Xem thêm ‘Phân loại và đánh giá mức độ nghiêm trọng’ ở dưới.)

Những bệnh nhân không ổn định về huyết động (ví dụ: nhịp tim nhanh, tụt huyết áp, tụt huyết áp tư thế) cần được chuyển đến khoa cấp cứu để ổn định tình trạng và nhập viện trước khi tiến hành các đánh giá chuyên sâu hơn.

Xét nghiệm thử thai bằng nước tiểu là bắt buộc, bất kể tiền sử quan hệ tình dục của bệnh nhân. Mang thai và các biến chứng liên quan đến thai kỳ là nguyên nhân phổ biến gây xuất huyết tử cung ở trẻ vị thành niên và có thể đe dọa tính mạng (ví dụ: thai ngoài tử cung, sảy thai). (Xem thêm “Đánh giá và chẩn đoán phân biệt chảy máu âm đạo trước 20 tuần thai”.)

Tiếp cận chẩn đoán – Đối với trẻ vị thành niên không mang thai bị AUB, việc khai thác bệnh sử (bảng 2), thăm khám (bảng 4) và xét nghiệm ban đầu tập trung vào các đặc điểm lâm sàng gắn với các nguyên nhân cụ thể và xác định kiểu ra máu chủ đạo, từ đó quyết định các bước đánh giá tiếp theo (bảng 5).

  • Vô kinh – Mang thai là nguyên nhân phổ biến gây vô kinh ở nữ giới trong độ tuổi sinh sản. Tiếp cận chẩn đoán vô kinh được thảo luận trong một phần riêng. (Xem “Đánh giá và xử trí vô kinh nguyên phát” và “Đánh giá và xử trí vô kinh thứ phát”.)
  • Chảy máu không đều – Sự chưa trưởng thành của trục HPO dẫn đến chu kỳ không rụng trứng là nguyên nhân thường gặp nhất gây chảy máu không đều ở trẻ vị thành niên không mang thai trong 1-2 năm đầu sau khi hành kinh. Rối loạn chức năng vùng hạ đồi liên quan đến tập luyện cường độ cao, stress hoặc thay đổi cân nặng cũng có thể gây rối loạn rụng trứng.

    Các nguyên nhân khác gây chảy máu không đều bao gồm suy buồng trứng, rối loạn tuyến giáp và tăng prolactin máu; lần lượt được đánh giá thông qua xét nghiệm hormone kích thích nang trứng (FSH), hormone kích thích tuyến giáp (TSH) và prolactin. Nếu có dấu hiệu hoặc triệu chứng của tăng androgen máu, cần đánh giá u buồng trứng, tăng sản thượng thận bẩm sinh thể không điển hình và u thượng thận thông qua định lượng testosterone, 17-hydroxyprogesterone và dehydroepiandrosterone sulfate.

  • Kinh nguyệt kéo dài và/hoặc cường kinh – Rối loạn đông máu (ví dụ: bệnh von Willebrand) là nguyên nhân thường gặp gây kinh nguyệt kéo dài và/hoặc cường kinh ở trẻ vị thành niên không mang thai có chu kỳ kinh đều. Cần đánh giá rối loạn đông máu ở những trẻ có tình trạng ra máu nhiều ngay từ kỳ kinh đầu tiên, ra máu mức độ nặng cần truyền máu, hoặc ra máu kèm thiếu máu không đáp ứng với liệu pháp hormone.

    Các nguyên nhân khác bao gồm: rối loạn tuyến giáp (đánh giá bằng TSH); bệnh lý mạn tính hoặc hệ thống (đánh giá bằng CRP, tốc độ lắng máu ESR, HbA1c, xét nghiệm chức năng gan, thận); bất thường cấu trúc tử cung và cổ tử cung (đánh giá bằng siêu âm vùng chậu); và một số loại thuốc nhất định. (Xem thêm ‘Cường kinh’ ở dưới.)

  • Chảy máu giữa chu kỳ với kinh nguyệt đều – Nguyên nhân gây chảy máu giữa chu kỳ ở trẻ vị thành niên bao gồm sử dụng thuốc tránh thai nội tiết hoặc dụng cụ tử cung, nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, và các nguyên nhân ngoài tử cung gây chảy máu ngắt quãng dễ nhầm lẫn với xuất huyết tử cung giữa chu kỳ.

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here