TÓM TẮT
Khối máu tụ và tụ dịch huyết thanh – Đây lần lượt là sự tích tụ máu và huyết thanh tại vết mổ, có thể khiến vết mổ tách rời và làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. (Xem Khối máu tụ và tụ dịch huyết thanh ở dưới.)
Nhiễm trùng vết mổ
Yếu tố nguy cơ – Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm trùng vết mổ bao gồm hút thuốc lá, đái tháo đường, suy dinh dưỡng, ung thư, béo phì, suy giảm miễn dịch, bệnh tim mạch, tiền sử mổ cũ tại vị trí đó và tiền sử xạ trị vùng mổ. Việc áp dụng kỹ thuật ngoại khoa tỉ mỉ nhằm tránh gây tổn thương mô quá mức, tránh thiếu máu cục bộ và đảm bảo cầm máu tốt đóng vai trò quan trọng trong dự phòng nhiễm trùng. (Xem Nhiễm trùng vết mổ ở dưới và “Tổng quan về nhiễm trùng vết mổ”.)
Điều trị – Các vết mổ nhiễm trùng cần được mở, thăm dò, dẫn lưu, rửa, cắt lọc mô hoại tử và thay băng mở. Nếu nghi ngờ có toác cân cơ, việc dẫn lưu phải được thực hiện trong phòng mổ. Tùy vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng nhiễm trùng để quyết định liệu pháp kháng sinh. Khi tình trạng nhiễm trùng đã được kiểm soát và xuất hiện mô hạt, vết thương có thể được khâu đóng lần hai hoặc để lành theo cơ chế đóng vết thương chậm (secondary intention). (Xem Điều trị ở dưới và “Tổng quan về nhiễm trùng vết mổ”, phần ‘Thăm dò và cắt lọc vết thương’.)
Dự phòng – Phẫu thuật viên có thể giảm tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ bằng các biện pháp dự phòng như: tránh phẫu thuật khi bệnh nhân đang có tình trạng nhiễm trùng tiến triển, sử dụng kháng sinh dự phòng, chuẩn bị da đúng cách và duy trì điều kiện vô khuẩn trong suốt quá trình mổ. Kỹ thuật phẫu thuật chuẩn xác, thao tác nhẹ nhàng với mô và khâu đóng chắc chắn nhưng không gây thiếu máu nuôi dưỡng mô cũng quan trọng không kém. (Xem Kỹ thuật phẫu thuật ở dưới và “Tổng quan về nhiễm trùng vết mổ”.)
Toác cân cơ – Tình trạng toác cân cơ xảy ra khi lực căng thành bụng vượt quá độ bền của mô, sức bền của chỉ khâu hoặc độ chắc của nút thắt. Biến chứng này có thể xuất hiện sớm hoặc muộn trong giai đoạn hậu phẫu. Trong trường hợp toác cân cơ sớm, lớp da khâu đóng có thể vẫn còn nguyên vẹn tùy thuộc vào phương pháp đóng (ví dụ: dùng ghim hoặc chỉ khâu). Bệnh nhân có nguy cơ thoát vị tạng, và toác cân cơ sớm sau mổ là một cấp cứu ngoại khoa. Biến chứng muộn của toác cân cơ là thoát vị vết mổ, có thể dẫn đến tắc ruột, thiếu máu cục bộ, thậm chí tử vong. (Xem Bung vết mổ lớp mạc ở dưới.)
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Béo phì – Béo phì làm tăng độ phức tạp của phẫu thuật bụng và liên quan đến việc gia tăng tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ, hình thành khối máu tụ và thoát vị vết mổ. Các kỹ thuật như rạch da ngang, rạch da trên rốn hoặc đôi khi là phẫu thuật cắt bỏ tạp dề (panniculectomy) được áp dụng để xử lý đối với những bệnh nhân có vùng da bụng thừa lớn. (Xem Béo phì ở dưới.)
Xạ trị – Vùng da từng xạ trị cũng liên quan đến việc tăng tỷ lệ bục vết mổ. Nếu có thể, đường rạch da nên được đặt ngoài vùng đã hoặc sẽ xạ trị. Không nên rạch da chéo nhau hoặc song song trong vùng mô từng xạ trị do nguy cơ cao gây chậm lành, nhiễm trùng và tiềm ẩn nguy cơ hoại tử da. (Xem Xạ trị ở dưới.)
