TÓM TẮT
Các nguyên tắc chung
- Một số thuốc điều trị đích (molecularly targeted agents) và liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư có liên quan đến các biến chứng thận đáng kể. Độc tính trên thận của các nhóm thuốc này đã được mô tả chi tiết ở phần trên. Dưới đây là những thuốc tiêu biểu.
Lưu ý về liều dùng
- Một số thuốc đòi hỏi phải hiệu chỉnh liều trên bệnh nhân có bệnh thận nền hoặc bệnh nhân phát triển độc tính trên thận trong quá trình điều trị ung thư. Khi có dữ liệu, các hướng dẫn về liều dùng và hiệu chỉnh liều theo độc tính trên thận được cung cấp cụ thể trong các chuyên luận về thuốc của UpToDate. (Xem ‘Lưu ý về liều dùng đối với độc tính trên thận’ ở dưới.)
Thuốc điều trị đích
Thuốc ức chế tạo mạch (Antiangiogenic agents)
- Các thuốc ức chế tạo mạch có tác dụng ức chế con đường yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF). Nhóm này bao gồm:
- Thuốc ức chế phối tử (ligand inhibitors): gắn kết và ngăn cản phối tử gắn vào thụ thể VEGF (VEGFR), từ đó ngăn chặn sự hoạt hóa thụ thể.
- Thuốc ức chế thụ thể tyrosine kinase (TKIs): ức chế miền nội bào của VEGFR.
Các tác dụng phụ đặc trưng trên thận của nhóm thuốc ức chế tạo mạch bao gồm:
Protein niệu/Hội chứng thận hư
- Tỷ lệ protein niệu nói chung dao động từ 21 đến 63%, tuy nhiên tình trạng protein niệu nặng (độ 3 hoặc 4) (bảng 1) ít phổ biến. Bệnh nhân điều trị bằng các thuốc này cần được theo dõi protein niệu định kỳ; có thể cân nhắc tạm ngưng hoặc ngừng hẳn thuốc nếu xuất hiện protein niệu từ trung bình đến nặng. (Xem ‘Protein niệu/Hội chứng thận hư’ ở dưới.)
Bệnh lý vi mạch huyết khối (TMA)
- TMA là biến chứng hiếm gặp nhưng đã được báo cáo với một số thuốc ức chế tạo mạch cụ thể (ví dụ: bevacizumab, sorafenib). Bệnh nhân có thể biểu hiện tình trạng tan máu vi mạch; các biểu hiện chỉ khu trú tại thận bao gồm tổn thương thận cấp (AKI) và/hoặc tăng huyết áp, hoặc chỉ có protein niệu đơn thuần; hoặc hội chứng TMA hệ thống nặng nề hơn. Việc ngừng thuốc gây độc là tối quan trọng vì TMA do thuốc có thể dẫn đến tử vong. (Xem ‘Bệnh lý vi mạch huyết khối’ ở dưới và “Bệnh lý vi mạch huyết khối do thuốc (DITMA)”.)
Thuốc ức chế CDK4/6
- Abemaciclib (một thuốc ức chế cyclin-dependent kinase 4 và 6) làm tăng nồng độ creatinine huyết thanh ở 10 đến 25% bệnh nhân, nhiều khả năng do ức chế quá trình bài tiết creatinine ở ống thận. Nồng độ creatinine này thường vẫn cao trong suốt quá trình điều trị và trở về bình thường sau khi ngừng thuốc. Nếu nghi ngờ chức năng thận suy giảm khi sử dụng thuốc ức chế CDK4/6, cần thực hiện các phương pháp đo lường chức năng thận thay thế (như xét nghiệm cystatin C và mức lọc cầu thận ước tính dựa trên cystatin [eGFR]) để phân biệt giữa tổn thương thận cấp thật sự và tình trạng ức chế bài tiết creatinine tại ống thận. (Xem ‘Thuốc ức chế CDK4/6’ ở dưới.)
Thuốc ức chế EGFR
- Hạ magie máu là tình trạng phổ biến khi sử dụng kháng thể đơn dòng ức chế thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) (cetuximab và panitumumab). Các rối loạn điện giải khác (như hạ natri máu, hạ canxi máu, hạ magie máu, hạ kali máu và hạ photpho máu) cũng đã được báo cáo với tất cả các thuốc ức chế EGFR TKIs. (Xem ‘Thuốc ức chế EGFR’ ở dưới.)
Thuốc ức chế FGFR
- Tăng photpho máu là tác dụng phụ chung của nhóm thuốc ức chế thụ thể yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (FGFR) (ví dụ: erdafitinib, pemigatinib). (Xem ‘Thuốc ức chế FGFR’ ở dưới.)
Ibrutinib
- Ibrutinib có liên quan đến các trường hợp tổn thương thận cấp (AKI) nghiêm trọng và có thể gây tử vong. Cơ chế gây tổn thương chưa được làm rõ, nhưng hội chứng ly giải khối u (TLS) có thể là một yếu tố góp phần. (Xem ‘Ibrutinib’ ở dưới.)
Imatinib
- Imatinib có liên quan đến tổn thương thận cấp và mạn tính khi dùng trong thời gian dài, cũng như gây tăng photpho máu. (Xem ‘Imatinib’ ở dưới.)
Liệu pháp miễn dịch
Liệu pháp tế bào CAR-T
- Tế bào T mang thụ thể kháng nguyên khảm (CAR-T) có thể gây hội chứng giải phóng cytokine (CRS) và tổn thương thận cấp (AKI). Các rối loạn điện giải cũng đã được ghi nhận, bao gồm tăng photpho máu và tăng kali máu liên quan đến TLS, cũng như hạ kali máu và hạ photpho máu không liên quan đến TLS. (Xem ‘Liệu pháp tế bào CAR-T’ ở dưới và “Hội chứng giải phóng cytokine (CRS)”, phần ‘CRS liên quan đến liệu pháp CAR-T’.)
Thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch
- Các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch có phổ tác dụng phụ đặc thù được gọi là các biến cố bất lợi liên quan đến miễn dịch (immune-related adverse events). Thông tin chi tiết sẽ được thảo luận ở một mục riêng. (Xem “Tổng quan về độc tính liên quan đến thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch”, phần ‘Thận’.)
