TÓM TẮT
Định nghĩa
- Tăng tính tự động của tim là tình trạng gia tăng tốc độ phát sinh điện thế hoạt động bởi các mô tạo nhịp bình thường (tăng tính tự động bình thường) hoặc bởi các mô bất thường trong cơ tim (tính tự động bất thường). (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Tính tự động bình thường
- Tần số phát xung tự phát của phức hợp nút xoang nhĩ (SA) cao hơn tất cả các bộ máy tạo nhịp phụ hoặc tiềm tàng khác, do đó ức chế hoạt động của các vị trí tạo nhịp phụ trước khi chúng kịp khử cực tự phát đạt ngưỡng. Tuy nhiên, các bộ máy tạo nhịp trước đó đã bị ức chế tại tâm nhĩ, nút nhĩ thất (AV) hoặc tâm thất có thể đảm nhận vai trò kiểm soát nhịp tim nếu nút xoang hoạt động chậm hoặc không thể phát xung, hoặc nếu các xung điện từ nút xoang không thể kích hoạt được cơ tâm nhĩ xung quanh. Điều này cũng có thể xảy ra nếu hoạt động của các vị trí tạo nhịp phụ tăng lên, dẫn đến nhịp nhanh. (Xem ‘Tính tự động bình thường’ ở dưới.)
Ảnh hưởng của thuốc và trương lực thần kinh tự chủ
- Các loại thuốc và chất dẫn truyền thần kinh tự chủ làm thay đổi tần số phát xung của nút xoang (xem ‘Ảnh hưởng của thuốc và trương lực thần kinh tự chủ lên nút xoang’ ở dưới):
- Tăng kích thích giao cảm hoặc giảm kích thích đối giao cảm (ví dụ: tập thể dục, sử dụng thuốc cường beta) dẫn đến tần số xoang cao hơn.
- Giảm kích thích giao cảm hoặc tăng kích thích đối giao cảm (ví dụ: thuốc chẹn beta, digoxin) dẫn đến tần số xoang thấp hơn.
Tính tự động của nút nhĩ thất
- Vùng nối nhĩ thất, bao gồm mô nhĩ, nút nhĩ thất và hệ thống His-Purkinje, chứa các tế bào tạo nhịp và có khả năng biểu hiện tính tự động, điều này có thể dẫn đến các cơn nhịp nhanh nút nhĩ thất lạc chỗ. (Xem ‘Nút hoặc vùng nối nhĩ thất’ ở dưới.)
Tính tự động của thất
- Các tế bào riêng lẻ thuộc hệ thống His-Purkinje phát xung tự phát với tần số từ 15 đến 60 nhịp/phút, trong khi các tế bào cơ thất thường không biểu hiện sự khử cực tâm trương tự phát hay tính tự động. Trong điều kiện bình thường, các sợi Purkinje không biểu hiện tính tự động tự phát do bị ức chế bởi các bộ máy tạo nhịp ở phía gần có tần số phát xung nhanh hơn. Tuy nhiên, tính tự động của sợi Purkinje có thể tăng lên trong một số tình huống nhất định, chẳng hạn như nhồi máu cơ tim. (Xem ‘Tâm thất’ ở dưới.)
Tính tự động bất thường
- Có vẻ như có sự liên quan giữa tính tự động bất thường của sợi Purkinje và các rối loạn nhịp xảy ra trong giai đoạn cấp của nhồi máu cơ tim, ví dụ như nhịp thất tăng tốc. Tuy nhiên, vai trò của tính tự động bất thường trong sự phát triển của các rối loạn nhịp thất liên quan đến bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính vẫn chưa được xác định rõ ràng. (Xem ‘Tính tự động bất thường’ ở dưới.)
