U nội tiết thần kinh dạ dày – ruột – tụy biệt hóa tốt độ cao (G3)

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Định nghĩa

Triệu chứng lâm sàng

  • Tụy là vị trí u nguyên phát phổ biến nhất, tiếp theo là ruột non và đại tràng hoặc dạ dày. Các triệu chứng thường gặp bao gồm chán ăn, mệt mỏi, sụt cân, và đau tại vị trí khối u hoặc các vùng tổn thương di căn (thường là gan). (Xem ‘Triệu chứng lâm sàng’ ở dưới).

Chẩn đoán

  • Nhìn chung, các khối u thường được phát hiện lần đầu qua các nghiên cứu chẩn đoán (ví dụ: chẩn đoán hình ảnh hoặc nội soi), có thể do tình cờ hoặc vì các triệu chứng liên quan đến bệnh. Chẩn đoán thường được xác định dựa trên đánh giá mô bệnh học của mô khối u, lấy từ sinh thiết hoặc bệnh phẩm phẫu thuật cắt bỏ. (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới).

Chẩn đoán hình ảnh giai đoạn bệnh

  • Đối với bệnh nhân đã được xác định chẩn đoán bằng mô bệnh học, các cận lâm sàng chẩn đoán hình ảnh giai đoạn bệnh bao gồm (xem ‘Chẩn đoán hình ảnh giai đoạn bệnh’ ở dưới):
    • Chụp cắt lớp vi tính (CT) có tiêm thuốc cản quang ngực, bụng (thực hiện theo kỹ thuật đa pha) và tiểu khung để đánh giá mức độ lan rộng của bệnh toàn thân.
    • Đối với bệnh nhân còn khả năng phẫu thuật cắt bỏ, có thể chỉ định chụp cắt lớp phát xạ positron kết hợp cắt lớp vi tính với fluorodeoxyglucose (FDG-PET-CT) trước phẫu thuật.
    • Chẩn đoán hình ảnh dựa trên thụ thể somatostatin (SSTR) nhằm phát hiện chính xác khối u và quyết định xem liệu liệu pháp phóng xạ trị liệu thụ thể peptide (PRRT) có phải là một lựa chọn điều trị hay không.

Quản lý bệnh lý khu trú

Điều trị ban đầu cho bệnh di căn

Bệnh lý dương tính với SSTR

  • Đối với bệnh nhân có bệnh lý dương tính với SSTR và chỉ số Ki-67 từ 20 đến 55 phần trăm:
    • Gánh nặng khối u tối thiểu và không có triệu chứng
      • Đối với một số bệnh nhân được chọn lọc có gánh nặng khối u tối thiểu (cực kỳ thấp) và không có triệu chứng, chúng tôi đề nghị sử dụng chất tương tự somatostatin (SSA) đơn độc hoặc kết hợp với PRRT (sử dụng Lutetium Lu-177 dotatate) thay vì các thuốc toàn thân khác (Khuyến cáo 2C). Hóa trị (capecitabine kết hợp temozolomide hoặc FOLFOX) cũng là một lựa chọn thay thế chấp nhận được. (Xem ‘Liệu pháp phóng xạ trị liệu thụ thể peptide (điều trị ban đầu)’ ở dưới, ‘Chất tương tự somatostatin’ ở dưới và ‘Hóa trị’ ở dưới).
      • Mặc dù đơn trị liệu SSA có hồ sơ độc tính thuận lợi, những bệnh nhân lựa chọn phương pháp này phải được tư vấn về bằng chứng hạn chế đối với hiệu quả của nó, được theo dõi sát sao và chuyển sang các phương pháp điều trị mạnh hơn khi bệnh tiến triển (chẳng hạn như PRRT kết hợp SSA đối với những trường hợp bệnh không tiến triển nhanh). (Xem ‘Chất tương tự somatostatin’ ở dưới).
    • Gánh nặng khối u hoặc triệu chứng trung bình
      • Đối với bệnh nhân có gánh nặng khối u hoặc triệu chứng ở mức độ trung bình, chúng tôi đề nghị sử dụng PRRT (sử dụng Lu-177 dotatate) kết hợp với SSA; hoặc hóa trị (capecitabine kết hợp temozolomide hoặc FOLFOX) thay vì các thuốc toàn thân khác (Khuyến cáo 2C). Cả hai chiến lược đều phù hợp vì đều là các phương pháp điều trị có hiệu quả cao, nhưng chúng chưa được so sánh trực tiếp trong các thử nghiệm ngẫu nhiên. Các vấn đề định hướng lựa chọn giữa các liệu pháp này đã được thảo luận ở trên. (Xem ‘Lựa chọn điều trị ban đầu’ ở dưới, ‘Liệu pháp phóng xạ trị liệu thụ thể peptide (điều trị ban đầu)’ ở dưới và ‘Hóa trị’ ở dưới).
    • Gánh nặng khối u hoặc triệu chứng nặng
      • Đối với bệnh nhân có gánh nặng khối u lớn hoặc triệu chứng nặng, chúng tôi đề nghị sử dụng hóa trị (capecitabine kết hợp temozolomide hoặc FOLFOX) thay vì PRRT hoặc các thuốc toàn thân khác (Khuyến cáo 2C) vì việc điều trị ngay lập tức là cần thiết, hóa trị có tác dụng khởi phát tương đối nhanh, đồng thời thường dễ tiếp cận và bắt đầu hơn so với PRRT. Tuy nhiên, PRRT kết hợp với SSA là một lựa chọn thay thế thích hợp cho những bệnh nhân có thể tiếp cận ngay và ưu tiên phác đồ này. (Xem ‘Liệu pháp phóng xạ trị liệu thụ thể peptide (điều trị ban đầu)’ ở dưới và ‘Hóa trị’ ở dưới).

Bệnh lý âm tính với SSTR

  • Đối với bệnh nhân có bệnh lý âm tính với SSTR và chỉ số Ki-67 từ 20 đến 55 phần trăm, chúng tôi đề nghị điều trị hóa chất ban đầu bằng capecitabine kết hợp temozolomide hoặc FOLFOX thay vì các thuốc toàn thân khác (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Hóa trị’ ở dưới).

Chỉ số Ki-67 cao hoặc bệnh tiến triển nhanh

Liệu pháp hàng thứ hai và các hàng sau cho bệnh tiến triển hoặc di căn

  • Phương pháp tối ưu cho liệu pháp hàng thứ hai và các hàng sau đối với NET G3 GEP tiến triển hoặc di căn vẫn chưa được thiết lập. Việc điều trị mang tính cá thể hóa, và bệnh nhân nhìn chung nên được điều trị bằng các phác đồ chưa từng nhận trước đó. Khuyến khích tham gia thử nghiệm lâm sàng nếu có sẵn. (Xem ‘Liệu pháp hàng thứ hai và các hàng sau’ ở dưới).

Đã dùng SSA đơn độc trước đó

  • Đối với bệnh nhân tiến triển khi đang dùng SSA đơn độc, chúng tôi đề nghị sử dụng PRRT kết hợp với SSA hoặc hóa trị (capecitabine kết hợp temozolomide hoặc FOLFOX) thay vì các thuốc toàn thân khác (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Lựa chọn điều trị’ ở dưới).

Đã dùng PRRT kết hợp SSA trước đó

  • Đối với bệnh nhân tiến triển khi đang dùng PRRT kết hợp SSA, chúng tôi đề nghị hóa trị (capecitabine kết hợp temozolomide hoặc FOLFOX) thay vì các thuốc toàn thân khác (Khuyến cáo 2C). Các thuốc nhắm trúng đích (sunitinib chỉ dành cho u nguyên phát ở tụy, everolimus, hoặc cabozantinib) là các lựa chọn thay thế phù hợp cho những trường hợp bệnh tiến triển chậm hơn. (Xem ‘Lựa chọn điều trị’ ở dưới).

Đã dùng hóa trị trước đó, chưa từng dùng PRRT

  • Đối với bệnh nhân có bệnh lý dương tính với SSTR tiến triển sau khi hóa trị và chưa từng nhận PRRT trước đó, chúng tôi đề nghị sử dụng PRRT kết hợp với SSA thay vì các thuốc toàn thân khác (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Liệu pháp phóng xạ trị liệu thụ thể peptide (liệu pháp hàng thứ hai và các hàng sau)’ ở dưới).
  • Một lựa chọn thay thế thích hợp (bất kể sự biểu hiện SSTR của khối u) là dùng một phác đồ hóa chất chưa từng được nhận trước đó (ví dụ: FOLFOX cho những người từng điều trị ban đầu bằng capecitabine kết hợp temozolomide và ngược lại). Các thuốc nhắm trúng đích (ví dụ: sunitinib chỉ cho u nguyên phát tụy, hoặc everolimus, cabozantinib) có thể được sử dụng cho những trường hợp bệnh tiến triển chậm hơn. (Xem ‘Hóa trị’ ở dưới và ‘Liệu pháp nhắm trúng đích phân tử’ ở dưới).

Bệnh lý chuyển dạng

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here