TÓM TẮT
Chỉ định sử dụng đường thở trên thanh môn (SGA)
- SGA được sử dụng trong kiểm soát đường thở để gây mê, là phương tiện kiểm soát đường thở ban đầu, làm dụng cụ dẫn đường để đặt nội khí quản và dùng trong thông khí cứu trợ (thuật toán 1). (Xem ‘Sử dụng SGA thường quy’ ở dưới.)
Các loại SGA
- SGA có nhiều kích cỡ và kiểu dáng khác nhau; một số loại được thiết kế để có thể đặt ống thông dạ dày qua đường miệng, trong khi số khác cho phép đặt nội khí quản thông qua thiết bị. Kích cỡ SGA tối ưu cho từng bệnh nhân là kích cỡ giúp giảm thiểu tình trạng rò rỉ mà không cần bơm cuff quá căng (bảng 1 và bảng 2). (Xem ‘Lựa chọn SGA’ và ‘Lựa chọn kích cỡ’ ở dưới.)
Kỹ thuật đặt SGA
Phương pháp đặt hầu hết các loại SGA đã được mô tả ở trên và được minh họa trong hình (hình 3) (xem ‘Kỹ thuật đặt hầu hết các loại SGA’ ở dưới).
Cách đặt một số loại SGA thế hệ thứ hai có đôi chút khác biệt. Đối với các loại SGA có độ cứng và được uốn cong sẵn (ví dụ: LMA Supreme, LMA Protector), không cần phải đưa ngón tay vào miệng bệnh nhân khi đặt thiết bị. (Xem ‘Kỹ thuật đặt SGA thế hệ thứ hai’ ở dưới.)
Thông khí qua SGA
- SGA có thể được sử dụng khi bệnh nhân tự thở hoặc thông khí áp lực dương. Thông khí giới hạn áp lực (tức là hỗ trợ áp lực hoặc kiểm soát áp lực) thường được sử dụng khi đặt SGA, thay vì thông khí kiểm soát thể tích. Áp lực đỉnh nên được duy trì dưới 20 cmH2O để giảm thiểu tình trạng rò rỉ và chướng hơi dạ dày. (Xem ‘Lựa chọn chế độ thông khí’ ở dưới.)
Việc sử dụng áp lực dương cuối kỳ thở ra (PEEP) với SGA chưa cho thấy lợi ích. (Xem ‘Sử dụng áp lực dương cuối kỳ thở ra (PEEP) với SGA’ ở dưới.)
Cứu trợ đường thở
- SGA có thể được sử dụng như một thiết bị cứu trợ đường thở khi thông khí qua mặt nạ khó khăn hoặc không thể thực hiện được. Thiết bị này cũng có thể dùng làm dụng cụ dẫn đường để đặt nội khí quản (thuật toán 1). (Xem ‘Đường thở trên thanh môn và đường thở khó’ và ‘SGA làm dụng cụ dẫn đường để đặt nội khí quản’ ở dưới.)
Bệnh nhân béo phì
- Việc sử dụng SGA ở bệnh nhân béo phì bị hạn chế do có khả năng cần áp lực đỉnh hít vào cao hơn và khó khăn khi đặt thiết bị vào đúng vị trí. (Xem ‘Bệnh nhân béo phì’ ở dưới và “Gây mê cho bệnh nhân béo phì”, phần ‘Lựa chọn thiết bị đường thở’.)
Bệnh nhân ở tư thế nằm sấp
- SGA có thể được sử dụng để kiểm soát đường thở ở tư thế nằm sấp, đóng vai trò là thiết bị đường thở ban đầu ở một số bệnh nhân được chọn lọc và dùng để cứu trợ đường thở. Chúng tôi chỉ giới hạn sử dụng SGA ở tư thế nằm sấp cho những bệnh nhân không có các yếu tố nguy cơ gây khó khăn trong kiểm soát đường thở, không hạn chế vận động cổ và sẽ thực hiện các thủ thuật ngắn không yêu cầu giãn cơ (ví dụ: cắt trĩ, rạch rò hậu môn). (Xem ‘Tư thế nằm sấp’ ở dưới.)
Biến chứng
SGA không bảo vệ hoàn toàn bệnh nhân khỏi nguy cơ hít sặc dịch dạ dày. (Xem ‘Bệnh nhân mắc bệnh trào ngược dạ dày thực quản’ và ‘Hít sặc’ ở dưới.)
Các biến chứng khác khi sử dụng SGA bao gồm đặt thiết bị thất bại và các biến chứng đường thở, bao gồm cả chấn thương đường thở. Đau họng, khàn tiếng và khó nuốt có thể liên quan đến áp lực cuff quá cao. Áp lực cuff nên được giới hạn ở mức xấp xỉ 44 cmH2O hoặc mức thể tích tối thiểu cần thiết để đảm bảo độ kín. (Xem ‘Các biến chứng liên quan đến đường thở trên thanh môn’ ở dưới.)