TÓM TẮT
Dịch tễ học- Nguy cơ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A (GAS) xâm lấn ở phụ nữ sau sinh cao hơn ít nhất 20 lần so với phụ nữ không mang thai. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
- Bao gồm nhiễm GAS đường hô hấp trên, tiếp xúc với trẻ nhỏ, vỡ ối sớm và sinh mổ. (Xem ‘Các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
- Hầu hết các trường hợp xảy ra trong giai đoạn hậu sản, mặc dù đã có báo cáo về các trường hợp nhiễm trùng trước sinh. Viêm nội cơ tử cung và nhiễm trùng mô mềm hoại tử (tại âm đạo, vết thương hoặc vị trí phẫu thuật) là hai vị trí nhiễm trùng phổ biến nhất. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
- Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm sốt, đau bụng và hạ huyết áp, có thể kèm theo nhịp tim nhanh hoặc tăng bạch cầu. Hạ huyết áp, nhịp tim nhanh và tổn thương cơ quan đích (ví dụ: tăng creatinine hoặc aminotransferase) là các dấu hiệu của hội chứng sốc độc tố liên cầu khuẩn (TSЅ) và có liên quan đến tỷ lệ tử vong cao hơn.
- Cần nghi ngờ nhiễm GAS xâm lấn ở bệnh nhân đang mang thai hoặc mới sinh xong có biểu hiện sốt và đau bụng hoặc đau vết mổ sau sinh, đặc biệt nếu sốt trên 38,5°C (101,3°F) hoặc mức độ đau không tương xứng với các phát hiện khi thăm khám lâm sàng (bao gồm thăm khám âm đạo bằng tay và bằng mỏ vịt). (Xem ‘Nghi ngờ lâm sàng và chẩn đoán sơ bộ’ ở dưới.)
- Chẩn đoán xác định nhiễm GAS xâm lấn cần có kết quả nhuộm Gram dương tính (thấy cầu khuẩn Gram dương đứng thành đôi hoặc chuỗi) hoặc kết quả nuôi cấy phân lập được GAS từ bệnh phẩm lâm sàng phù hợp ở bệnh nhân có hội chứng lâm sàng tương ứng với nhiễm GAS xâm lấn. (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán và chẩn đoán xác định’ ở dưới.)
- Cần lấy bệnh phẩm nhuộm Gram và nuôi cấy từ các vị trí giải phẫu sau: máu (nếu có thể, nên lấy ít nhất hai bộ trước khi dùng kháng sinh), âm đạo (bao gồm cả dịch tiết nếu có), hút nội mạc tử cung, nhau thai, vết thương hở, vùng hầu họng và bất kỳ vị trí nào nghi ngờ nhiễm trùng.
- Chẩn đoán phân biệt bao gồm các tình trạng nhiễm trùng khác gây nhiễm khuẩn huyết, viêm nội cơ tử cung hoặc TSЅ trong thai kỳ. Các nhiễm trùng này bao gồm sốc độc tố do vi khuẩn Clostridium hoặc Staphylococcus, viêm cân mạc hoại tử, viêm nội mạc tử cung đa vi khuẩn, viêm phổi, viêm thận – bể thận và các tình trạng khác. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
- Các phương pháp điều trị chính là dùng kháng sinh, hỗ trợ huyết động và kiểm soát nguồn nhiễm. Can thiệp kịp thời là yếu tố sống còn. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới.)
- Đối với bệnh nhân mang thai nhiễm khuẩn huyết không rõ nguyên nhân, cần có chỉ định điều trị kinh nghiệm theo hướng nhiễm GAS ngay khi có nghi ngờ cho đến khi có chẩn đoán xác định. Đồng thời, cần bao phủ cả các vi khuẩn khác trong khi chờ kết quả xét nghiệm. Một phác đồ ví dụ là dùng đường tĩnh mạch vancomycin, clindamycin và meropenem. (Xem ‘Điều trị kháng sinh kinh nghiệm’ ở dưới.)
- Đối với bệnh nhân đã xác định nhiễm GAS, chúng tôi đề xuất phối hợp kháng sinh với penicillin G đường tĩnh mạch và clindamycin (thay vì chỉ dùng penicillin G đơn độc) (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Điều trị kháng sinh theo đích’ ở dưới.)
- Việc theo dõi sớm và liên tục chức năng tim mạch, hô hấp và thận trong suốt quá trình diễn tiến bệnh là yếu tố then chốt để cải thiện tiên lượng. Cần đặc biệt lưu ý tránh tình trạng quá tải dịch và lạm dụng thuốc vận mạch ở những bệnh nhân tiến triển sốc độc tố do GAS.
- Đối với các trường hợp nhiễm GAS gây hoại tử, việc kiểm soát nguồn nhiễm là thiết yếu và có thể cần phải cắt lọc vết thương hoặc vùng âm hộ, cắt tử cung, hoặc cả hai. Những bệnh nhân không có tình trạng nhiễm trùng hoại tử có thể chỉ cần điều trị bằng kháng sinh và lên kế hoạch can thiệp phẫu thuật nếu tình trạng bệnh xấu đi. (Xem ‘Vai trò của phẫu thuật’ ở dưới.)
- Bệnh nhân sốc độc tố liên cầu khuẩn thường được điều trị bằng globulin miễn dịch đường tĩnh mạch như một liệu pháp bổ trợ cho kháng sinh. (Xem “Nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A xâm lấn và hội chứng sốc độc tố: Điều trị và phòng ngừa”, phần ‘Globulin miễn dịch đường tĩnh mạch’.)
