TÓM TẮT
-
Khiếm khuyết miễn dịch
Nhiễm trùng có ảnh hưởng lớn đến diễn tiến lâm sàng của bệnh nhân bạch cầu lympho mạn tính (CLL). Bệnh nhân CLL có các khiếm khuyết miễn dịch bẩm sinh về miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào liên quan đến quá trình bệnh lý chính, bao gồm giảm gammaglobulin máu, bất thường các quần thể tế bào T, cùng các khiếm khuyết về hoạt tính bổ thể và chức năng bạch cầu trung tính/đơn nhân. Sự ức chế miễn dịch liên quan đến điều trị còn làm ảnh hưởng thêm đến chức năng miễn dịch ở những bệnh nhân này. (Xem “Dự phòng nhiễm trùng ở bệnh nhân bạch cầu lympho mạn tính” và ‘Khiếm khuyết miễn dịch’ ở dưới.)
-
Phổ nhiễm trùng
Phổ nhiễm trùng ở bệnh nhân CLL đã thay đổi trong vài thập kỷ qua cùng với việc đưa vào sử dụng các liệu pháp điều trị CLL có tác động đặc hiệu lên chức năng miễn dịch, đặc biệt là miễn dịch qua trung gian tế bào. Các biến chứng nhiễm trùng quan sát được ở những bệnh nhân này đã tiến triển tương ứng với các tác nhân cụ thể được sử dụng. (Xem ‘Phổ nhiễm trùng’ ở dưới.)
-
Các tác nhân alkyl hóa
Bệnh nhân chưa qua điều trị và bệnh nhân được điều trị bằng các tác nhân alkyl hóa có nguy cơ cao nhiễm các tác nhân gây bệnh vi khuẩn phổ biến như Staphylococcus aureus, Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, và Pseudomonas aeruginosa. Tình trạng nhiễm khuẩn tái diễn có nguồn gốc từ niêm mạc (đường hô hấp, đường tiết niệu) là khá phổ biến. (Xem ‘Phổ nhiễm trùng’ và ‘Các tác nhân alkyl hóa’ ở dưới.)
-
Các chất tương tự purin
Với việc sử dụng các chất tương tự purin (ví dụ: fludarabine) gây ra những bất thường về cả số lượng và chất lượng tế bào T, một phổ biến chứng nhiễm trùng rộng hơn đã xuất hiện so với khi sử dụng các tác nhân alkyl hóa. Ở những bệnh nhân đang điều trị bằng chất tương tự purin, ngoài các nhiễm khuẩn thông thường, còn có các báo cáo về nhiễm trùng cơ hội do các sinh vật như Listeria, mycobacteria, Nocardia, Candida, Aspergillus, Cryptococcus, Pneumocystis, và các herpesvirus (herpes simplex virus, varicella-zoster virus, và cytomegalovirus [CMV]). (Xem ‘Các chất tương tự purin’ ở dưới.)
-
Các kháng thể đơn dòng kháng CD20
Rituximab, ofatumumab và obinutuzumab là các kháng thể đơn dòng kháng CD20 gây giảm số lượng tế bào B tạm thời. Nhiễm trùng độ 3 hoặc 4 (nặng) và nhiễm trùng cơ hội hiếm gặp khi sử dụng đơn trị liệu kháng CD20. Tuy nhiên, có thể xảy ra tái hoạt động viêm gan B ở những bệnh nhân dương tính với kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B (HBsAg) hoặc kháng thể lõi virus viêm gan B (anti-HBc). Bệnh lý đa ổ hủy myelin tiến triển (PML) cũng đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị bằng kháng thể đơn dòng kháng CD20. (Xem ‘Các kháng thể đơn dòng kháng CD20’ ở dưới.)
Alemtuzumab: Liệu pháp với alemtuzumab, một kháng thể đơn dòng kháng CD52, có liên quan đến các khiếm khuyết sâu sắc về miễn dịch qua trung gian tế bào cũng như tình trạng giảm bạch cầu trung tính. Alemtuzumab có liên quan đến nhiều loại nhiễm trùng khác nhau, bao gồm nhiễm khuẩn, virus, nấm và đơn bào. Các nhiễm trùng nặng bao gồm Aspergillus, Mucorales, Candida, Listeria, Pneumocystis, và CMV. Tái hoạt động/bệnh do CMV là biến chứng nhiễm trùng đáng kể nhất xảy ra với tác nhân này. (Xem ‘Alemtuzumab’ ở dưới.)
-
Các chất ức chế Bruton tyrosine kinase và phosphatidylinositol 3-kinase
Các bằng chứng tuy còn hạn chế nhưng đang dần gia tăng cho thấy ibrutinib có liên quan đến các nhiễm nấm xâm lấn, bao gồm viêm phổi do Pneumocystis, nhiễm nấm Aspergillus xâm lấn và nhiễm nấm cryptococcosis; trong khi idelalisib và duvelisib có liên quan đến nhiễm Pneumocystis và CMV. (Xem ‘Các chất ức chế Bruton tyrosine kinase’ và ‘Các chất ức chế phosphatidylinositol 3-kinase’ ở dưới.)
-
Lenalidomide và venetoclax
Liệu pháp với lenalidomide hoặc venetoclax không có liên quan đến các nhiễm trùng cơ hội. (Xem ‘Lenalidomide’ và ‘Venetoclax’ ở dưới.)
-
Dự phòng nhiễm trùng
Cách tiếp cận dự phòng nhiễm trùng ở bệnh nhân CLL được xem xét riêng biệt. (Xem “Dự phòng nhiễm trùng ở bệnh nhân bạch cầu lympho mạn tính”.)