TÓM TẮT
- Định nghĩa và phân loại – Vẹo cột sống ở người trưởng thành được định nghĩa là tình trạng cột sống cong vẹo sang bên trên mặt phẳng trán với góc vẹo >10 độ ở bệnh nhân đã trưởng thành về mặt xương. Các nguyên nhân phổ biến nhất bao gồm vẹo cột sống khởi phát mới (de novo) liên quan đến các thay đổi thoái hóa, hoặc là sự tiến triển của vẹo cột sống vô căn ở trẻ vị thành niên, vẹo cột sống bẩm sinh hoặc vẹo cột sống khởi phát sớm. (Xem thêm mục ‘Thuật ngữ’ và ‘Nguyên nhân và phân loại’ ở dưới.)
- Biểu hiện lâm sàng – Bệnh nhân vẹo cột sống ở người trưởng thành thường không có triệu chứng. Những trường hợp có triệu chứng có thể biểu hiện bằng đau lưng, mất cân bằng tư thế gây khó khăn khi đứng và đi, các triệu chứng của hẹp ống sống (đi khập khiễng do nguyên nhân thần kinh, bệnh rễ thần kinh), thiếu hụt thần kinh và/hoặc lo ngại về ngoại hình (ví dụ: giảm chiều cao, thay đổi tư thế, mất đối xứng). (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
- Đánh giá – Mục tiêu của việc khai thác tiền sử (bảng 3) và thăm khám cho bệnh nhân vẹo cột sống trưởng thành là để đánh giá các dấu hiệu lâm sàng, xác định nguyên nhân (thoái hóa nguyên phát, tiến triển của vẹo cột sống vô căn trẻ vị thành niên, hoặc thứ phát sau một bệnh lý khác) và các yếu tố góp phần gây đau (nếu có). (Xem thêm mục ‘Đánh giá lâm sàng’ ở dưới.)
- Khám thực thể – Các nội dung thăm khám (bảng 2) bao gồm quan sát bệnh nhân ở tư thế đứng và thực hiện nghiệm pháp cúi người Adam. Thước đo độ vẹo (scoliometer) được sử dụng để đo góc xoay thân mình (ATR). (Xem thêm mục ‘Khám cột sống’ ở dưới.)
- Chẩn đoán hình ảnh – Đánh giá X-quang ban đầu đối với vẹo cột sống bao gồm phim chụp cột sống tư thế đứng thẳng, hướng sau-trước (PA) và nghiêng, sử dụng cassette kỹ thuật số 36 inch. Các phim chụp bổ sung và/hoặc chẩn đoán hình ảnh nâng cao cho những bệnh nhân có triệu chứng hoặc vẹo cột sống mức độ nặng, tiến triển thường sẽ do bác sĩ chuyên khoa cột sống chỉ định. (Xem thêm mục ‘Đánh giá X-quang’ ở dưới.)
- Chẩn đoán – Vẹo cột sống ở người trưởng thành là một chẩn đoán dựa trên hình ảnh học: độ cong sang bên (mặt phẳng trán) có góc Cobb >10 độ (hình 1) và sụn tăng trưởng mào chậu đã đóng hoàn toàn (Risser 5 (hình 8)). Mức độ nghiêm trọng của vẹo cột sống tăng tỷ lệ thuận với góc Cobb. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
- Diễn tiến tự nhiên và theo dõi tiến triển – Việc giáo dục bệnh nhân về diễn tiến tự nhiên của vẹo cột sống giúp hỗ trợ quá trình cùng ra quyết định trong việc lựa chọn phương pháp điều trị. Chúng tôi đề xuất chụp X-quang và theo dõi lâm sàng định kỳ hàng năm hoặc hai năm một lần suốt đời để đánh giá bất kỳ sự tiến triển nào của biến dạng hoặc những thay đổi về chất lượng cuộc sống. (Xem thêm mục ‘Tiến triển đường cong’ và ‘Đảm bảo tính liên tục trong chăm sóc’ ở dưới.)
- Xử trí – Việc xử trí vẹo cột sống ở người trưởng thành được cá thể hóa tùy theo nguyên nhân, mức độ nghiêm trọng của triệu chứng và chất lượng cuộc sống. Xử trí tại tuyến chăm sóc ban đầu thường bao gồm các điều trị bảo tồn (ví dụ: thuốc giảm đau, nẹp mềm, giảm cân, sử dụng xe đẩy bốn bánh, chuyển gửi tập vật lý trị liệu chuyên biệt cho vẹo cột sống). (Xem thêm mục ‘Xử trí bệnh nhân có triệu chứng’ ở dưới.)
- Chỉ định chuyển chuyên khoa – Các chỉ định chuyển đến bác sĩ chuyên khoa cột sống bao gồm: bệnh nhân mong muốn được theo dõi định kỳ để kiểm soát khả năng tiến triển đường cong và điều trị; đau kéo dài ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dù đã áp dụng các biện pháp bảo tồn; và các dấu hiệu cảnh báo “cờ đỏ” (ví dụ: đi khập khiễng do nguyên nhân thần kinh, đau rễ thần kinh, yếu cơ tiến triển, mất điều phối hoặc tê bì, mất kiểm soát đại tiểu tiện). (Xem thêm mục ‘Chỉ định chuyển chuyên khoa’ ở dưới.)
- Điều trị chuyên khoa – Đối với những bệnh nhân không đáp ứng với các biện pháp bảo tồn, phương pháp điều trị có thể bao gồm tiêm glucocorticoid ngoài màng cứng để giảm đau rễ thần kinh hoặc can thiệp phẫu thuật đối với các trường hợp biến dạng nghiêm trọng.
