Phòng ngừa tử vong do tim đột ngột ở bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu thất trái (LVEF) giảm

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Nguyên tắc chung – Bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm (HFrEF) có nguy cơ đột tử do tim (SCD) vì các rối loạn nhịp thất. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Tỷ lệ đột tử do tim – Tỷ lệ SCD ở bệnh nhân HFrEF chưa đặt máy phá rung tim cấy ghép (ICD) đã giảm. Hiện nay, tỷ lệ SCD hằng năm ở những bệnh nhân này là khoảng 3%. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Yếu tố nguy cơ – Các yếu tố nguy cơ gây SCD bao gồm giảm phân suất tống máu thất trái (LVEF), sự hiện diện và mức độ xơ hóa cơ tim xác định trên cộng hưởng từ tim (CMR), ngoại tâm thu thất thường xuyên hoặc phức tạp, và nhịp nhanh thất không bền vững (NSVT). (Xem ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)

Điều trị nội khoa theo khuyến cáo – Điều trị nội khoa theo khuyến cáo (GDMT), thường được chỉ định cho bệnh nhân HFrEF, đã được chứng minh là giúp giảm nguy cơ SCD. (Xem ‘Điều trị nội khoa theo khuyến cáo’ ở dưới.)

Máy phá rung tim cấy ghép (ICD) trong dự phòng tiên phát – ICD cung cấp liệu pháp điều trị (như tạo nhịp chống nhịp nhanh và sốc điện) giúp giảm nguy cơ SCD. Các chỉ định đặt ICD như sau (thuật toán 1):

  • Bệnh cơ tim do thiếu máu cục bộ – Chúng tôi khuyến cáo đặt ICD cho các đối tượng bệnh nhân sau (Khuyến cáo 1B):
    • LVEF ≤35% và suy tim theo phân độ NYHA nhóm II hoặc III.
    • LVEF ≤30% và suy tim theo phân độ NYHA nhóm I.
    • LVEF ≤40%, có NSVT và nhịp nhanh thất bền vững trong thăm dò điện sinh lý (EPS). (Xem ‘Bệnh cơ tim do thiếu máu cục bộ’ ở dưới.)
  • Bệnh cơ tim không do thiếu máu cục bộ – Đối với bệnh nhân bệnh cơ tim không do thiếu máu cục bộ có LVEF ≤35% và suy tim NYHA nhóm II hoặc III, chúng tôi khuyến cáo đặt ICD (Khuyến cáo 1B). Một số phân nhóm bệnh cơ tim không do thiếu máu cục bộ khác dù không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn trên nhưng vẫn có thể hưởng lợi từ việc đặt ICD. (Xem ‘Bệnh cơ tim không do thiếu máu cục bộ’ ở dưới.)

Nhìn chung, bệnh nhân được chỉ định đặt ICD nên đáp ứng các tiêu chí sau:

  • Kỳ vọng sống của bệnh nhân ít nhất một năm.
  • Đã qua ít nhất 40 ngày kể từ khi nhồi máu cơ tim (MI), nếu có.
  • Đã qua ít nhất ba tháng kể từ khi tái thông mạch vành, nếu có.
  • LVEF và phân độ NYHA của bệnh nhân được đánh giá khi đang dùng GDMT liều tối đa dung nạp được.

ICD trong dự phòng thứ phát – Đối với hầu hết bệnh nhân HFrEF từng đột tử do tim nhưng được cứu sống hoặc có nhịp nhanh thất bền vững mà không tìm thấy nguyên nhân có thể đảo ngược, chúng tôi khuyến cáo đặt ICD (Khuyến cáo 1B). Đối với hầu hết bệnh nhân HFrEF có ngất không rõ nguyên nhân và gây được nhịp nhanh thất bền vững trên EPS, chúng tôi khuyến cáo đặt ICD (Khuyến cáo 1B). (Xem ‘Dự phòng thứ phát’ ở dưới.)

Các nhóm đối tượng đặc biệt – Những nhóm đối tượng cần cân nhắc thêm bao gồm bệnh nhân suy tim NYHA nhóm IV, tuổi cao, có bệnh đồng mắc, ngấm thuốc gadolinium muộn (LGE) trên diện rộng trên cộng hưởng từ tim (CMR), mới nhồi máu cơ tim/tái thông mạch vành, hoặc ngất không rõ nguyên nhân. (Xem ‘Các nhóm đối tượng đặc biệt’ ở dưới.)

Thay máy phát xung ở bệnh nhân có LVEF cải thiện – Đối với những bệnh nhân đã đặt ICD nhưng LVEF cải thiện, quyết định thay máy phát xung ICD nên được cá thể hóa. (Xem ‘Thay máy phát xung ICD ở bệnh nhân có LVEF cải thiện’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here