TÓM TẮT
Nguyên tắc chung – Thận giữ vai trò then chốt trong việc duy trì nồng độ magie huyết tương ở mức bình thường. Khác với hầu hết các chất hòa tan khác được lọc qua cầu thận, chỉ có 10% lượng magie được tái hấp thu tại ống lượn gần; phần lớn (50 đến 70%) magie được tái hấp thu thụ động tại đoạn vỏ của quai Henle lên dày. Sự tái hấp thu tại quai Henle giảm đi một cách thích hợp khi cơ thể nạp thêm magie, từ đó cho phép đào thải lượng magie dư thừa qua nước tiểu. (Xem ‘Giới thiệu’ phía trên.)
Nguyên nhân gây tăng magie máu – Tăng magie máu chủ yếu gặp trong các tình huống sau (xem ‘Nguyên nhân gây tăng magie máu’ phía trên):
- Suy giảm chức năng thận – Nồng độ magie huyết tương tăng dần khi chức năng thận suy giảm do cơ thể không có hệ thống điều hòa magie nào khác ngoài việc bài tiết qua nước tiểu. (Xem ‘Suy giảm chức năng thận’ phía trên.)
- Truyền magie – Tăng magie máu thường xảy ra khi sử dụng magie đường tĩnh mạch để giảm kích thích thần kinh cơ ở phụ nữ mang thai bị tiền sản giật hoặc sản giật nặng. (Xem ‘Truyền magie’ phía trên.)
- Dung nạp magie đường uống – Tăng magie máu nghiêm trọng với các triệu chứng đe dọa tính mạng có thể xảy ra do vô tình ngộ độc muối Epsom hoặc các thuốc chứa magie được dùng làm thuốc tẩy xổ hoặc thuốc nhuận tràng. (Xem ‘Đường uống’ phía trên.)
- Thụt tháo magie – Một lượng lớn magie có thể được hấp thu từ đại tràng sau khi thụt tháo bằng magie. (Xem ‘Thụt tháo magie’ phía trên.)
- Các nguyên nhân khác – Tăng magie máu nhẹ đôi khi có thể xảy ra trong nhiều bệnh cảnh lâm sàng khác (ví dụ: cường tuyến cận giáp nguyên phát, nhiễm toan ceton do đái tháo đường, hội chứng ly giải khối u). (Xem ‘Các nguyên nhân khác’ phía trên.)
Triệu chứng – Các triệu chứng của tăng magie máu bao gồm:
- Độc tính thần kinh cơ là biến chứng phổ biến nhất. Các triệu chứng dao động từ giảm phản xạ gân xương khi nồng độ magie huyết tương đạt mức 2 đến 3 mmol/L (4 đến 6 mEq/L hoặc 4,8 đến 7,2 mg/dL) cho đến tình trạng ngủ gà, mất phản xạ gân xương và liệt cơ. (Xem ‘Ảnh hưởng thần kinh cơ’ phía trên.)
- Nhịp tim chậm và hạ huyết áp có thể xảy ra khi nồng độ magie huyết tương trên 2 đến 2,5 mmol/L (4 đến 5 mEq/L hoặc 4,8 đến 6 mg/dL). Các thay đổi trên điện tâm đồ (ECG) bao gồm kéo dài khoảng PR, tăng thời gian QRS và kéo dài khoảng QT. Block tim hoàn toàn và ngưng tim có thể xảy ra khi nồng độ magie huyết tương trên 7,5 mmol/L (15 mEq/L hoặc 18 mg/dL). (Xem ‘Ảnh hưởng tim mạch’ phía trên.)
- Tăng magie máu có thể ức chế sự bài tiết hormone tuyến cận giáp (PTH), gây hạ canxi máu thoáng qua. (Xem ‘Hạ canxi máu’ phía trên.)
- Tăng magie máu cũng có thể gây ra các triệu chứng không đặc hiệu như buồn nôn, nôn và đỏ bừng mặt. (Xem ‘Các triệu chứng khác’ phía trên.)
Điều trị – Hầu hết các trường hợp tăng magie máu có triệu chứng đều có thể phòng ngừa bằng cách dự phòng. Bệnh nhân suy thận không nên dùng các thuốc có chứa magie, và những bệnh nhân truyền magie qua đường tĩnh mạch cần được theo dõi ít nhất hàng ngày hoặc thường xuyên hơn tùy thuộc vào liều lượng và phác đồ. (Xem ‘Điều trị’ phía trên.)
Chức năng thận bình thường hoặc gần bình thường – Nếu chức năng thận bình thường, việc ngừng liệu pháp magie sẽ giúp nhanh chóng khôi phục nồng độ magie về mức bình thường. Ngoài ra, có thể dùng lợi tiểu quai (hoặc thiazide) để tăng bài tiết magie qua thận. Canxi tĩnh mạch có thể dùng trong các trường hợp có triệu chứng, liều thông thường là 100 đến 200 mg canxi nguyên tố tiêm trong 5 đến 10 phút. (Xem ‘Chức năng thận bình thường hoặc gần bình thường’ phía trên.)
Suy giảm chức năng thận mức độ trung bình – Ở bệnh nhân bệnh thận mạn (CKD) có eGFR từ 15 đến 45 mL/phút/1,73 m2 và bệnh nhân tổn thương thận cấp (AKI) nhẹ, điều trị ban đầu bao gồm truyền dịch tĩnh mạch đẳng trương (như nước muối sinh lý) phối hợp với lợi tiểu quai (như furosemide) và ngừng các thuốc chứa magie. Có thể cần liều lợi tiểu cao hơn. Nếu các biện pháp này không cải thiện nồng độ magie huyết thanh, có thể cần lọc máu, đặc biệt khi có các biểu hiện thần kinh hoặc tim mạch nghiêm trọng. (Xem ‘Suy giảm chức năng thận mức độ trung bình’ phía trên.)
Suy giảm chức năng thận mức độ nặng – Thường cần lọc máu ở những bệnh nhân tăng magie máu nặng hoặc có triệu chứng mắc CKD giai đoạn tiến triển (eGFR dưới 15 mL/phút/1,73 m2) hoặc AKI từ trung bình đến nặng. Do quá trình chuẩn bị lọc máu thường mất một giờ hoặc hơn, cần tiêm canxi tĩnh mạch cho bệnh nhân có triệu chứng để đối kháng và đảo ngược các ảnh hưởng thần kinh cơ và tim mạch của tình trạng tăng magie máu. Trừ khi bệnh nhân vô niệu, nên phối hợp quản lý y tế bằng truyền dịch và lợi tiểu quai trong khi chờ lọc máu, đặc biệt trong các trường hợp nặng hoặc có triệu chứng. (Xem ‘Suy giảm chức năng thận mức độ nặng’ phía trên.)
