Huyết động của các rối loạn van tim đo bằng thông tim

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Vai trò của đánh giá huyết động xâm lấn trong bệnh lý van tim
  • Siêu âm tim là phương pháp chẩn đoán và đánh giá hàng đầu đối với bệnh lý van tim. Ở một số ít bệnh nhân, cần thực hiện thêm các đánh giá như đo áp lực nội tâm thất xâm lấn và/hoặc chụp mạch vì dữ liệu siêu âm không đủ để chẩn đoán hoặc không phù hợp với biểu hiện lâm sàng. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Bệnh lý van động mạch chủ Hẹp van động mạch chủ Vai trò và nguy cơ của thông tim
  • Thông tim được khuyến cáo để đánh giá huyết động trong hẹp van động mạch chủ ở người cao tuổi, chỉ áp dụng cho những bệnh nhân có triệu chứng mà các xét nghiệm không xâm lấn cho kết quả không rõ ràng hoặc không phù hợp với lâm sàng. Có một số nguy cơ gây thuyên tắc mạch não liên quan đến việc đưa catheter xuyên qua van động mạch chủ bị vôi hóa. (Xem ‘Hẹp van động mạch chủ’ ở dưới.)
Chênh áp qua van động mạch chủ
  • Có thể đánh giá chính xác chênh áp qua van động mạch chủ bằng cách đo đồng thời áp lực động mạch chủ (được đánh giá bằng catheter pigtail phía trên van động mạch chủ) và áp lực thất trái (LV) (được đo bằng kỹ thuật xuyên vách liên nhĩ hoặc sử dụng catheter hai lòng chứa dịch, hoặc dùng catheter đầu dò độ phân giải cao dành cho nghiên cứu) (hình 1). (Xem ‘Chênh áp qua van động mạch chủ’ ở dưới.)
Hở van động mạch chủ Hở van động mạch chủ mạn
  • Đường biểu diễn áp lực động mạch chủ trong hở van động mạch chủ cho thấy sự gia tăng áp lực nhanh (do tăng sức co bóp thất trái), tăng áp lực tâm thu (do tăng thể tích nhát bóp) và giảm nhanh xuống áp lực tâm trương thấp (dẫn đến hiệu số huyết áp rộng). (Xem ‘Hở van động mạch chủ mạn tính’ ở dưới.)
Hở van động mạch chủ cấp
  • Trong hở van động mạch chủ cấp, áp lực tâm trương thất trái tăng mạnh và áp lực cuối tâm trương thất trái tăng rất cao (tương đương với áp lực cuối tâm trương động mạch chủ). Do thể tích nhát bóp hướng tâm giảm, áp lực tâm thu động mạch chủ giảm, dẫn đến hiệu số huyết áp nhỏ hơn. (Xem ‘Hở van động mạch chủ cấp tính’ ở dưới.)
Bệnh lý van hai lá Hở van hai lá Hở van hai lá mạn
  • Trong hở van hai lá mạn, dòng hở tạo ra sóng áp lực nhĩ trái lớn ngay khi bắt đầu thì tâm thu thất (sóng 4). Trong giai đoạn đầu của thì tâm trương, nhĩ trái giảm áp nhanh chóng với dòng máu hướng tâm lớn vào thất trái. (Xem ‘Hở van hai lá mạn tính’ ở dưới.)
Hở van hai lá cấp
  • Trong hở van hai lá cấp, áp lực nhĩ trái tăng đột ngột khi bắt đầu thì tâm thu, tạo ra sóng “v” rất cao. Do sự xuất hiện của sóng “v” này, chênh áp giữa nhĩ trái và thất trái giảm dần vào cuối thì tâm thu; biên độ của sóng “v” và biên độ tâm thu thất trái gần như tương đương nhau. (Xem ‘Hở van hai lá cấp tính’ ở dưới.)
Hẹp van hai lá
  • Mức độ nặng của hẹp van hai lá được phản ánh qua chênh áp trung bình qua van hai lá (MVG), được đo trong thì tâm trương bằng cách so sánh đồng thời áp lực thất trái (được đo bằng catheter thất trái đặt ngược dòng từ động mạch chủ) và áp lực nhĩ trái (được đo trực tiếp bằng catheter xuyên vách hoặc gián tiếp bằng catheter động mạch phổi ở vị trí đo áp lực mao mạch phổi [PCWP]) (sóng 6). (Xem ‘Chênh áp qua van hai lá’ ở dưới.)
Bệnh lý van ba lá Hở van ba lá
  • Dòng hở van ba lá tạo ra dạng sóng áp lực nhĩ phải đặc trưng do sự truyền sóng hở vào nhĩ phải, tĩnh mạch chủ và cuối cùng là các tĩnh mạch cảnh (sóng 7). (Xem ‘Hở van ba lá’ ở dưới.)
Hẹp van ba lá
  • Hẹp van ba lá gây tắc nghẽn dòng máu từ nhĩ phải sang thất phải, dẫn đến chênh áp trong thì tâm trương giữa hai buồng này. (Xem ‘Hẹp van ba lá’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here