Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán vôi hóa vòng van hai lá

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Sinh lý bệnh

  • Vôi hóa vòng van hai lá (MAC) là hệ quả của một quá trình chủ động tương tự như xơ vữa động mạch và vôi hóa van động mạch chủ. Có mối liên hệ chặt chẽ giữa MAC với các yếu tố nguy cơ xơ vữa động mạch và vôi hóa van tim. (Xem ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)

Dịch tễ học

  • Tỷ lệ lưu hành và mức độ nặng của MAC tăng dần theo tuổi. MAC đặc biệt phổ biến ở bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng

  • MAC thường là tình cờ phát hiện trên lâm sàng liên quan đến quá trình lão hóa, mặc dù đôi khi mức độ vôi hóa đủ lớn để gây hẹp van hai lá (MS) do vôi hóa, hở van hai lá (MR), hoặc cả hai (bệnh lý phối hợp). (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Các bệnh lý liên quan

  • MAC thường xuất hiện cùng với nhiều tình trạng khác bao gồm vôi hóa van động mạch chủ, rối loạn chức năng tâm trương, bệnh lý hệ thống dẫn truyền, rung nhĩ (AF) và bệnh tim mạch do xơ vữa. (Xem ‘Các bệnh lý liên quan’ ở dưới.)

Chẩn đoán viêm nội tâm mạc

  • Bệnh nhân MAC có viêm nội tâm mạc thường biểu hiện các sùi trên lá van hai lá (MV) và ít gặp hơn là sùi bám trực tiếp vào vùng vôi hóa vòng van, cũng như áp-xe quanh vòng van tại vị trí MAC. Sự hiện diện của MAC có thể gây khó khăn trong việc xác định áp-xe gần vòng van hai lá phía sau. (Xem ‘Viêm nội tâm mạc’ ở dưới.)

Đánh giá chẩn đoán

  • Siêu âm tim là phương thức chẩn đoán hình ảnh chính để nhận diện và xác định đặc điểm của MAC cùng các bệnh lý van hai lá kèm theo. Đối với bệnh nhân đang được đánh giá để thay van hai lá, chụp cắt lớp vi tính tim (cardiac CT) là phương thức hình ảnh cho phép đánh giá chi tiết mức độ và vị trí vôi hóa. (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới.)

Đánh giá mức độ hẹp van hai lá do vôi hóa

(Xem ‘Đánh giá huyết động trong hẹp van hai lá’ ở dưới.)

Chênh áp trung bình

  • Để mô tả mức độ nặng của hẹp van hai lá do vôi hóa, các bác sĩ lâm sàng thường sử dụng các chỉ số Doppler để đo chênh áp trung bình qua van hai lá trong thì tâm trương. Chênh áp trung bình tâm trương >10 mmHg phù hợp với chẩn đoán hẹp nặng, tuy nhiên giá trị đo đạc bị ảnh hưởng bởi điều kiện tải huyết động, tần số tim và lưu lượng qua van hai lá.

Diện tích lỗ van hai lá (MVA)

  • Việc ước tính diện tích lỗ van hai lá (MVA) ở bệnh nhân MAC rất khó khăn; phương pháp tính MVA dựa trên thời gian nửa áp lực (pressure half-time) ở bệnh nhân MAC thường dẫn đến quá mức diện tích van, trong khi đo diện tích lỗ van bằng phương pháp đo diện tích (planimetry) hiếm khi thực hiện được. Trong trường hợp không có hở van hai lá hoặc hở van động mạch chủ đáng kể hay rối loạn nhịp, phương pháp tính MVA ưu tiên là sử dụng phương trình liên tục. MVA <1,5 cm2 là chỉ số phù hợp với hẹp nặng.

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here