TÓM TẮT
Chuyển tuyến tư vấn bảo tồn khả năng sinh sản – Tất cả bệnh nhân có dự định điều trị bằng các liệu pháp gây độc cho tuyến sinh dục hoặc phẫu thuật cắt bỏ tuyến sinh dục mà mong muốn có con trong tương lai cần được chuyển đến bác sĩ chuyên khoa nội tiết sinh sản để thảo luận về các phương pháp bảo tồn khả năng sinh sản. (Xem thêm ‘Chuyển tuyến tư vấn nhanh’ ở dưới.)
Hai khía cạnh cần cân nhắc về chức năng sinh sản – Khi đánh giá chức năng sinh sản, các nhà lâm sàng cần phân định rõ ràng giữa mong muốn có con trong tương lai và nhu cầu duy trì khả năng sản xuất hormone của bệnh nhân. (Xem thêm ‘Đánh giá mục tiêu điều trị của bệnh nhân’ ở dưới.)
Các phương pháp bảo tồn khả năng sinh sản – Phương pháp phổ biến và hiệu quả nhất để bảo tồn khả năng sinh con cho bệnh nhân có nguy cơ suy tuyến sinh dục là trữ đông phôi. Trong trường hợp không thể trữ đông phôi, các phương án thay thế bao gồm trữ đông tế bào trứng và tinh trùng. Trữ đông mô buồng trứng hiện nay được coi là một phương pháp bảo tồn khả năng sinh sản chính thống với tỷ lệ thành công ngày càng cao. Ngược lại, trữ đông mô tinh hoàn hiện vẫn đang trong giai đoạn thực nghiệm và các kỹ thuật tự ghép mô chưa được thiết lập chuẩn hóa. Mặc dù trữ đông mô có thể là lựa chọn duy nhất để bảo tồn khả năng sinh sản cho trẻ em trước tuổi dậy thì, nhưng việc kích thích buồng trứng và trữ đông tế bào trứng có thể thực hiện được ở trẻ sau tuổi dậy thì từ 12 tuổi trở lên. (Xem thêm ‘Trữ đông’ ở dưới.)
Các lựa chọn thay thế trong bảo tồn khả năng sinh sản – Các phương án hỗ trợ sinh sản thay thế bao gồm sử dụng trứng hiến tặng, mang thai hộ hoặc nhận con nuôi. (Xem thêm ‘Các phương pháp khác để bảo tồn hoặc phục hồi khả năng sinh sản’ ở dưới.)
Vai trò chưa rõ ràng của liệu pháp GnRH – Hiệu quả của liệu pháp hormone giải phóng gonadotropin (GnRH) trong việc bảo tồn khả năng sinh sản và/hoặc chức năng buồng trứng hiện khó đánh giá, do nhiều nghiên cứu sử dụng các tiêu chí đánh giá thay thế không đáng tin cậy hoặc không phù hợp. Thêm vào đó, hầu hết các nghiên cứu được thực hiện trên những quần thể bệnh nhân mắc nhiều bệnh lý khác nhau hoặc ở các giai đoạn bệnh khác nhau. (Xem thêm ‘Hạn chế’ ở dưới.)
Chúng tôi không khuyến cáo sử dụng thuốc đồng vận GnRH để ức chế buồng trứng nhằm bảo tồn khả năng sinh sản hoặc bảo vệ buồng trứng, vì các dữ liệu chất lượng cao hơn cho thấy không mang lại lợi ích. (Xem thêm ‘Tiếp cận của chúng tôi’ và ‘Xem xét dữ liệu về việc sử dụng thuốc đồng vận GnRH’ ở dưới.)
Tính an toàn của việc sử dụng thuốc đồng vận GnRH trên bệnh nhân ung thư vẫn chưa được xác lập thông qua các nghiên cứu dài hạn. (Xem thêm ‘Các lo ngại’ ở dưới.)
Khả năng di chuyển buồng trứng và che chắn tia xạ – Đối với những bệnh nhân có buồng trứng chuẩn bị điều trị xạ trị đơn thuần (không kết hợp hóa trị), các lựa chọn bổ sung để bảo tồn chức năng buồng trứng bao gồm phẫu thuật di chuyển buồng trứng ra ngoài vùng chiếu xạ và sử dụng tấm chắn tia xạ. Các phương pháp này có thể phối hợp cùng với các kỹ thuật trữ đông đã được thiết lập. (Xem thêm ‘Các phương pháp hạn chế tia xạ’ ở dưới.)
