TÓM TẮT
Tổng quan
- Tắc mạch do tinh thể cholesterol (hay còn gọi là thuyên tắc mảng xơ vữa – atheroembolization) xảy ra khi một phần mảng xơ vữa động mạch bị bong ra và di chuyển theo dòng máu gây tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn các động mạch nhỏ ngoại biên, dẫn đến thiếu máu cục bộ tại mô hoặc cơ quan đích. Tình trạng này thường gặp ở người lớn tuổi có nền xơ vữa động mạch lan tỏa, ăn mòn. (Xem ‘Giới thiệu’ phía trên).
Yếu tố nguy cơ
- Thuyên tắc tinh thể cholesterol thường xuất hiện sau các thủ thuật thao tác trên động mạch chủ hoặc các động mạch lớn khác như chụp động mạch, nong mạch, thay van động mạch chủ qua ống thông (TAVI), nong van động mạch chủ bằng bóng (BAV), hoặc phẫu thuật; tuy nhiên, bệnh cũng có thể xảy ra tự phát. Việc điều trị bằng warfarin, thuốc chống đông đường uống tác dụng trực tiếp (DOAC), heparin hoặc thuốc tiêu sợi huyết có thể làm tăng nguy cơ, nhưng tình trạng thuyên tắc mảng xơ vữa liên quan đến thuốc chống động là không phổ biến. (Xem ‘Yếu tố nguy cơ’ phía trên).
Biểu hiện lâm sàng
- Tắc mạch do tinh thể cholesterol ở thận thường gây ra tổn thương thận cấp tính bán cấp, xuất hiện sau vài tuần hoặc lâu hơn kể từ thời điểm có sự kiện khởi phát nghi ngờ. Mặc dù vậy, các biểu hiện lâm sàng thường liên quan nhiều hơn đến tình trạng thuyên tắc mảng xơ vữa tại da (gây ra “hội chứng ngón chân xanh” (hình 1) hoặc hồng ban dạng lưới (hình 2)), mạc treo ruột (gây thiếu máu ruột, xuất huyết tiêu hóa hoặc viêm tụy), và hệ thần kinh trung ương (gây cơn thiếu máu não thoáng qua, lú lẫn hoặc các triệu chứng thị giác). (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ phía trên).
- Kết quả tổng phân tích nước tiểu thường bình thường, có rất ít tế bào hoặc trụ niệu, và protein niệu thường không nổi bật; tuy nhiên, hội chứng thận hư do protein niệu mức độ thận hư đã từng được báo cáo. Một số bệnh nhân có cặn lắng nước tiểu hoạt hóa, bao gồm hồng cầu niệu và hiếm khi có trụ hồng cầu. Tăng huyết áp nặng cũng có thể xuất hiện. Các bất thường cận lâm sàng khác bao gồm tăng bạch cầu ái toan và giảm bổ thể, có thể phản ánh quá trình hoạt hóa miễn dịch tại bề mặt của các hạt vi thuyên tắc mảng xơ vữa lộ ra ngoài. (Xem ‘Các bất thường về nước tiểu’ phía trên và ‘Tăng bạch cầu ái toan và giảm bổ thể’ phía trên).
Đánh giá và chẩn đoán
- Chẩn đoán lâm sàng thuyên tắc mảng xơ vữa thận có thể được thiết lập khi có một sự kiện khởi phát tiềm ẩn (thường là chụp mạch máu) theo sau là sự khởi phát muộn của tổn thương thận (thường là tính bằng tuần hoặc lâu hơn thay vì giờ hoặc ngày), đặc biệt khi có các dấu hiệu thuyên tắc mảng xơ vữa ngoài thận. Sinh thiết thận hoặc da được coi là phương pháp xác định chẩn đoán. Mặc dù vậy, sinh thiết mô là không cần thiết ở những bệnh nhân mắc bệnh thận do thuyên tắc mảng xơ vữa iatrogenic biểu hiện đầy đủ các đặc điểm của tam chứng lâm sàng cổ điển (xem ‘Đánh giá và chẩn đoán’ phía trên):
Chẩn đoán phân biệt
- Chẩn đoán phân biệt của thuyên tắc mảng xơ vữa thận xuất hiện sau khi chụp mạch hoặc phẫu thuật mạch máu chủ yếu bao gồm hoại tử ống thận cấp (ATN) do chất cản quang hoặc sau thiếu máu cục bộ. Các tình trạng này thường có thể được phân biệt dựa trên sự vắng mặt hoặc hiện diện của các ổ thuyên tắc ngoài thận và dựa vào diễn tiến lâm sàng. Ngoài ra, chẩn đoán phân biệt còn bao gồm viêm thận kẽ cấp tính và viêm mạch hệ thống, đặc biệt ở những bệnh nhân có tăng bạch cầu ái toan và/hoặc giảm bổ thể. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ phía trên).
Điều trị
- Hiện không có phương pháp điều trị đặc hiệu cho bệnh thận do thuyên tắc mảng xơ vữa. Tất cả bệnh nhân nên được điều trị tích cực nhằm dự phòng thứ phát các bệnh lý tim mạch. Bên cạnh việc sử dụng statin, phác đồ này bao gồm aspirin, kiểm soát huyết áp, bỏ hút thuốc lá và kiểm soát đường huyết đối với bệnh nhân đái tháo đường. (Xem ‘Điều trị và tiên lượng’ phía trên).
Tiên lượng
- Bệnh nhân mắc thuyên tắc mảng xơ vữa thận nhìn chung có tiên lượng xấu, điều này phần nào phản ánh mức độ nặng của bệnh lý mạch máu nền. (Xem ‘Điều trị và tiên lượng’ phía trên).
