Chọc dò màng phổi dưới hướng dẫn siêu âm

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

  • Định nghĩa – Chọc hút dịch màng phổi là một thủ thuật qua da nhằm loại bỏ dịch từ khoang màng phổi. Thủ thuật này chỉ nên được thực hiện bởi các lâm sàng viên có kinh nghiệm và chứng minh được năng lực thực hiện. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

  • Dụng cụ – Chọc hút dịch màng phổi là một thủ thuật vô khuẩn và cần có sự đồng ý của bệnh nhân sau khi đã được giải thích. Hiện có nhiều bộ dụng cụ chọc hút màng phổi thương mại bao gồm: dung dịch sát khuẩn da (ví dụ: chlorhexidine 0,05%), săng vô khuẩn, vật liệu băng vết thương vô khuẩn, thuốc gây tê tại chỗ, catheter trên kim cỡ 18G, khóa ba chạc, bơm tiêm 35-60 mL và túi/hệ thống dẫn lưu dịch màng phổi. (Xem ‘Dụng cụ’ ở dưới.)

  • Kỹ thuật – Nên thực hiện chọc hút dịch màng phổi dưới hướng dẫn của siêu âm nếu có sẵn. Trước khi tiến hành, người thực hiện cần dùng siêu âm để loại trừ tràn khí màng phổi và xác định chính xác các cấu trúc quan trọng cần tránh khi chèn kim, bao gồm: cơ hoành cùng với gan hoặc lách phía dưới, phổi, thành ngực, tim và động mạch chủ xuống. Thủ thuật được thực hiện ngay sau khi thăm khám siêu âm, đảm bảo bệnh nhân không thay đổi tư thế từ lúc chọn vị trí đến khi chèn kim. (Xem ‘Kỹ thuật’ ở dưới và “Siêu âm màng phổi tại giường: Dụng cụ, kỹ thuật, nhận diện tràn dịch và tràn khí màng phổi”.)

    Siêu âm giúp định hướng chọn vị trí chọc bằng cách xác định khoảng liên sườn có dịch màng phổi với độ sâu đủ để kim không đâm vào phổi trong quá trình hút (thường >10 mm). (Xem ‘Chọn vị trí’, ‘Góc và độ sâu khi chèn kim’ và ‘Chèn kim hoặc catheter’ ở dưới.)

    Vị trí chọc được đánh dấu bằng nắp kim, ghi nhớ góc và độ sâu xâm nhập, gây tê da và thành sườn, sau đó tiến hành hút dịch. Nhìn chung, 50 mL là đủ cho mục đích chẩn đoán, trong khi thể tích lớn hơn có thể được hút ra cho mục đích điều trị. (Xem thêm “Chọc hút dịch màng phổi thể tích lớn (điều trị): Quy trình và biến chứng”.)

  • Theo dõi – Sau khi chọc hút, thực hiện siêu âm lồng ngực cùng bên để kiểm tra tràn khí màng phổi. Chụp X-quang ngực thường quy không được chỉ định cho hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng và không thở máy nếu siêu âm cho thấy không có tràn khí màng phổi. Tuy nhiên, chỉ định chụp X-quang ngực trong các trường hợp sau:

    • Siêu âm gợi ý có tràn khí hoặc kết quả không rõ ràng.
    • Hút ra khí trong khi làm thủ thuật.
    • Xuất hiện các triệu chứng hoặc dấu hiệu của tràn khí màng phổi.
    • Hình ảnh siêu âm kém hoặc máy siêu âm không thể lưu trữ hình ảnh định dạng bền vững (để làm hồ sơ).
    • Phải chọc kim nhiều lần 21.

    Mặc dù chúng tôi thường áp dụng quy trình tương tự cho bệnh nhân thở máy, một số chuyên gia vẫn chỉ định chụp X-quang ngực thường quy cho nhóm đối tượng này. (Xem ‘Theo dõi’ ở dưới.)

  • Biến chứng – Các biến chứng tiềm tàng của chọc hút dịch màng phổi bao gồm: đau tại vị trí chọc, chảy máu (ví dụ: khối máu tụ, tràn máu màng phổi hoặc tràn máu màng bụng), tràn khí màng phổi, mủ màng phổi, nhiễm trùng mô mềm, chọc tổn thương lách hoặc gan, phản ứng phó giao cảm (vasovagal), gieo rắc tế bào u dọc đường chọc kim, phản ứng bất lợi với thuốc tê hoặc dung dịch sát khuẩn tại chỗ, khó thở, ho và phù phổi do giãn nở lại. Tràn khí màng phổi là biến chứng phổ biến và quan trọng nhất về mặt lâm sàng, xảy ra ở khoảng 3% bệnh nhân hoặc ít hơn khi có hướng dẫn của siêu âm; hiếm khi cần phải dẫn lưu màng phổi bằng ống để điều trị. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here