TÓM TẮT
Phạm vi bệnh lý
- Đa u tủy (Multiple myeloma – MM) là một tân sinh tế bào plasma, chiếm khoảng 10% tổng số các bệnh lý ác tính huyết học, tiến triển từ một giai đoạn tiền ác tính không triệu chứng của sự tăng sinh tế bào plasma dòng đơn, gọi là bệnh lý gammopathy đơn dòng chưa rõ ý nghĩa (monoclonal gammopathy of undetermined significance – MGUS). (Xem ‘Tổng quan về cơ chế bệnh sinh’ ở dưới).
Tế bào nguồn gốc
- Hầu hết các trường hợp đa u tủy phát sinh từ sự chuyển dạng ác tính của các tế bào plasma sau trung tâm mầm (post-germinal center plasma cells), trong khi các trường hợp hiếm gặp của đa u tủy tiết IgM xuất phát từ tế bào plasma trước trung tâm mầm (pre-germinal center plasma cell). (Xem ‘Tế bào nguồn gốc’ ở dưới).
Tiến triển theo từng bước
- Bệnh sinh của đa u tủy rất phức tạp và chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Tuy nhiên, mô hình tiến triển hai bước là mô hình mô tả sát nhất các biểu hiện lâm sàng (hình 1):
Sự hình thành MGUS
- Các bất thường di truyền tế bào nguyên phát đóng vai trò chủ đạo trong việc thiết lập giai đoạn tăng sinh dòng đơn giới hạn, được nhận diện trên lâm sàng là MGUS. Các bất thường này bao gồm chuyển đoạn chuỗi nặng globulin miễn dịch (IgH), tăng bội thể (hyperdiploidy), và các biến dị số lượng bản sao, bao gồm cả các thay đổi cấu trúc phức tạp. (Xem ‘Sự hình thành MGUS’ ở dưới).
- Những bất thường này có thể là hệ quả của một đáp ứng bất thường và kéo dài đối với sự kích thích kháng nguyên, cùng với các sai sót xảy ra trong quá trình tái tổ hợp chuyển đổi globulin miễn dịch (immunoglobulin switch recombination).
Tiến triển từ MGUS thành đa u tủy
- Một hoặc một số ít sự kiện di truyền bổ sung (thứ phát) dẫn đến sự tiến triển thành đa u tủy. Sự tương tác giữa các tế bào plasma với vi môi trường tủy xương đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh. (Xem ‘Sự tiến triển từ MGUS thành MM’ ở dưới).
Tổn thương cơ quan đích
- Các triệu chứng (như tăng calci máu, tổn thương xương tiêu xương, suy thận và thiếu máu) liên quan đến sự thâm nhiễm của các tế bào plasma vào xương hoặc các cơ quan khác, hoặc do tổn thương thận từ lượng chuỗi nhẹ dư thừa. (Xem ‘Sinh học bệnh lý tổn thương cơ quan đích’ ở dưới).
