Xử trí nội soi các biến chứng đường mật sau cắt túi mật

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Bối cảnh

  • Bệnh lý túi mật có triệu chứng rất phổ biến và thường được điều trị bằng phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Tuy nhiên, phẫu thuật cắt túi mật nội soi có tỷ lệ biến chứng đường mật cao hơn so với mổ mở ( bảng 1 ). Điều này có thể liên quan đến những hạn chế về mặt kỹ thuật của phương pháp tiếp cận ít xâm lấn. (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở trên và “Biến chứng của phẫu thuật cắt túi mật nội soi” .)

Rò mật

  • Mục tiêu của liệu pháp nội soi trong điều trị rò mật sau cắt túi mật là loại bỏ chênh lệch áp lực qua nhú vater, từ đó tạo điều kiện cho dịch mật lưu thông qua nhú vào tá tràng thay vì thoát vị ra ngoài tại vị trí rò.
  • Đối với bệnh nhân rò mật từ vị trí ngoại vi (ví dụ: mỏm ống túi mật) hoặc từ tổn thương bên của ống mật chủ hoặc ống gan chung, chúng tôi đề xuất đặt Stent qua nhú vater dưới hướng dẫn của nội soi mật tụy ngược dòng (ERC), có hoặc không kèm theo cắt cơ vòng đường mật, thay vì chỉ cắt cơ vòng đơn thuần. Lý do là phương pháp đặt stent dưới hướng dẫn của ERC mang lại hiệu quả cao hơn trong việc giải quyết phần lớn các trường hợp rò mật ( Khuyến cáo 2C ). (Xem phần ‘Rò mật’ ở trên.)
  • Stent đường mật được lưu lại trong khoảng 4 đến 6 tuần. Sau thời gian lưu stent này, hầu hết bệnh nhân đã hồi phục trên lâm sàng (tức là không còn đau/chướng bụng), chỗ rò mật đã liền và stent sẽ được rút qua nội soi.

Hẹp đường mật

  • Đối với hầu hết bệnh nhân bị hẹp đường mật sau cắt túi mật nhưng không kèm theo tắc nghẽn hoàn toàn ống mật chủ hoặc ống gan chung, chúng tôi đề xuất can thiệp dưới hướng dẫn của ERC thay vì phẫu thuật ( Khuyến cáo 2C ). Phương pháp tiếp cận dưới hướng dẫn của ERC kết hợp đặt stent đường mật ít xâm lấn hơn và đem lại hiệu quả giải quyết tình trạng hẹp lâu dài. (See ‘Hẹp đường mật’ ở trên.)
  • Nội soi mật tụy ngược dòng (ERC) kết hợp thay stent nhựa định kỳ được thực hiện khoảng 3 đến 6 tháng một lần, với tổng thời gian lưu stent từ 6 đến 12 tháng. Sau khi tình trạng hẹp được giải quyết, chúng tôi theo dõi bệnh nhân bằng các xét nghiệm men gan mỗi 3 tháng trong vòng 6 đến 12 tháng, đồng thời thực hiện chẩn đoán hình ảnh (ví dụ: chụp cộng hưởng từ mật tụy [MRCP]) khi men gan tăng cao hơn giá trị nền.

Sót sỏi ống mật chủ

  • Phương pháp xử trí sót sỏi ống mật chủ sau cắt túi mật (trong trường hợp không có rò mật) tương tự như ở bệnh nhân còn nguyên túi mật, thường bao gồm cắt cơ vòng đường mật kết hợp lấy sỏi bằng rọ (basket) hoặc ống thông bóng (balloon catheters). Việc lấy sỏi ống mật chủ được thảo luận chi tiết ở phần riêng. (Xem “Điều trị sỏi ống mật chủ qua nội soi” .)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here