TÓM TẮT
Cơ chế bệnh sinh
- Viêm túi mật u hạt vàng (xanthogranulomatous cholecystitis) là một bệnh lý viêm hiếm gặp của túi mật, đặc trưng bởi quá trình viêm hủy hoại khu trú hoặc lan tỏa, kèm theo sự tích tụ các đại thực bào chứa lipid, mô xơ và các tế bào viêm cấp và mạn tính. (Xem ‘Dịch tễ học’ và ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới).
Đặc điểm lâm sàng
- Độ tuổi trung bình khi khởi phát bệnh dao động từ 44 đến 63 tuổi. Các triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân viêm túi mật u hạt vàng bao gồm khởi phát cấp tính cơn đau hạ sườn phải, buồn nôn và nôn. Khi khám thực thể, dấu hiệu Murphy có thể dương tính và dễ nhầm lẫn với viêm túi mật cấp. Ở những bệnh nhân khác, triệu chứng có thể diễn biến mạn tính hơn, bao gồm sụt cân và chán ăn. Sờ thấy khối hạ sườn phải ở khoảng 10% số bệnh nhân, làm cho bệnh cảnh rất giống ung thư túi mật. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới).
Đặc điểm hình ảnh học
- Các đặc điểm của viêm túi mật u hạt vàng trên hình ảnh học ổ bụng bao gồm các nốt hoặc dải giảm âm ở thành túi mật và thành túi mật dày lan tỏa. Tuy nhiên, các đặc điểm hình ảnh học của viêm túi mật u hạt vàng không đặc hiệu. Thêm vào đó, chẩn đoán hình ảnh không thể phân biệt chính xác giữa viêm túi mật u hạt vàng và ung thư túi mật, và hai tình trạng này có thể cùng tồn tại. (Xem ‘Đặc điểm hình ảnh’ ở dưới).
Biến chứng
- Khoảng 30% bệnh nhân viêm túi mật u hạt vàng có biến chứng tại thời điểm chẩn đoán. Các biến chứng tại chỗ bao gồm thủng túi mật và tắc nghẽn đường mật. Tắc nghẽn ống túi mật kéo dài và tình trạng căng giãn túi mật dưới áp lực trong giai đoạn viêm cấp tính có thể dẫn đến việc lan rộng của tình trạng viêm u hạt vàng vượt ra ngoài túi mật, hình thành các ổ áp-xe gan và đường rò thông với các cấu trúc lân cận như gan, tá tràng, dạ dày, đại tràng và da. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới).
Chẩn đoán
- Chẩn đoán viêm túi mật u hạt vàng thường được tình cờ phát hiện qua kết quả giải phẫu bệnh của túi mật đã cắt bỏ ở bệnh nhân nghi ngờ viêm túi mật cấp. Tuy nhiên, cũng cần nghĩ đến chẩn đoán viêm túi mật u hạt vàng ở những bệnh nhân có khối u hạ sườn phải và/hoặc có khí trong đường mật gợi ý rò đường tiêu hóa – mật. Ở những bệnh nhân chuẩn bị phẫu thuật cắt túi mật, tình trạng thành túi mật dày rõ rệt kèm theo các dải xơ dính dày đặc, lan tỏa vào các cấu trúc lân cận nên làm gia tăng nghi ngờ về viêm túi mật u hạt vàng. (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới).
Xử trí
- Ở những bệnh nhân được nghi ngờ mắc viêm túi mật u hạt vàng trước phẫu thuật, chúng tôi thực hiện chụp cộng hưởng từ mật tụy (MRCP) để đánh giá rõ cây đường mật trước mổ. Những bệnh nhân biểu hiện tắc mật có triệu chứng như viêm đường mật có thể cần dẫn lưu đường mật trước phẫu thuật. Phương pháp điều trị triệt để duy nhất đối với viêm túi mật u hạt vàng là phẫu thuật cắt túi mật. Cần tiến hành sinh thiết tức thì trong mổ (frozen section) để chẩn đoán xác định hoặc loại trừ ung thư túi mật. Nên cố gắng cắt bỏ hoàn toàn mô u hạt vàng lân cận, ngay cả khi phải cắt một phần vào giường gan. (Xem ‘Xử trí’ ở dưới).
