Trẻ có tầm vóc cao và/hoặc tăng trưởng nhanh bất thường

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Định nghĩa – Tầm vóc cao được định nghĩa là chiều dài hoặc chiều cao $\ge$ bách phân vị thứ 97,7 (Z-score $\ge 2$) so với quần thể. Các định nghĩa ít nghiêm ngặt hơn sử dụng chiều dài hoặc chiều cao $\ge$ bách phân vị thứ 95 (Z-score $\ge 1,66$). Bách phân vị và Z-score về chiều cao có thể được xác định bằng cách vẽ trên biểu đồ chiều cao theo tuổi (hình 1A-B) hoặc tính toán bằng công cụ tính chiều cao đứng cho bé trai (máy tính 1) hoặc bé gái (máy tính 2). Tăng trưởng nhanh bất thường được gợi ý nếu chiều cao của trẻ lệch lên trên hai đường bách phân vị chính trong khoảng từ 2 tuổi đến khi bắt đầu dậy thì. (Xem ‘Chiều cao của trẻ có bất thường so với quần thể không?’ ở dưới.)

Đánh giá

Tốc độ tăng trưởng chiều cao – Tính tốc độ tăng trưởng chiều cao (HV) là một bước quan trọng trong đánh giá trẻ có tầm vóc cao. HV vượt quá các ngưỡng sau thường được coi là bất thường và cần thực hiện đánh giá về rối loạn tăng trưởng:

  • Từ 2 đến 4 tuổi: HV > 9 cm/năm (> 3,5 inch/năm)
  • Từ 4 đến 6 tuổi: HV > 8,5 cm/năm (> 3,3 inch/năm)
  • Từ 6 tuổi đến tuổi dậy thì:
    • HV > 6 cm/năm đối với bé trai (> 2,4 inch/năm)
    • HV > 6,5 cm/năm đối với bé gái (> 2,6 inch/năm)

Để đánh giá chính xác hơn về tăng trưởng chiều dài, HV của trẻ có thể được vẽ trên biểu đồ HV (hình 2A-B) để xác định bách phân vị HV theo tuổi và giới tính; HV lớn hơn bách phân vị thứ 90 được coi là bất thường. (Xem ‘Tăng trưởng của trẻ có nhanh bất thường không?’ ở dưới.)

Dự đoán chiều cao – Ước tính chung về tiềm năng chiều cao di truyền của trẻ có thể được xác định bằng cách tính chiều cao trung bình của cha mẹ (midparental height), dựa trên chiều cao của cả cha và mẹ ruột và điều chỉnh theo giới tính của trẻ. Việc tính toán có thể thực hiện bằng phương trình hoặc công cụ tính toán (máy tính 3). Một trẻ cao có chiều cao nằm trong khoảng dự kiến của gia đình thường là do tầm vóc cao theo gia đình. (Xem ‘Tăng trưởng của trẻ có nằm trong khoảng của gia đình không?’ ở dưới.)

Xác định tuổi xương – Đối với trẻ có HV tăng nhanh bất thường, đặc biệt là những trẻ có chiều cao dự kiến cao hơn mức trung bình của gia đình, việc đánh giá tầm vóc cao nên bao gồm chụp X-quang xác định tuổi xương. Kết quả này được dùng để dự đoán tiềm năng chiều cao, cung cấp ước tính về chiều cao khi trưởng thành chính xác hơn phương pháp tính chiều cao trung bình của cha mẹ. Ngoài ra, phương pháp này còn giúp xác định tình trạng tăng trưởng xương chậm hoặc tăng tốc, vốn có thể liên quan đến một số rối loạn nội tiết. (Xem ‘Tuổi xương’ ở dưới.)

Nguyên nhân gây tầm vóc cao

Tầm vóc cao theo gia đình – Tầm vóc cao theo gia đình (hiến trạng), một biến thể của kiểu tăng trưởng và phát triển bình thường ở trẻ em, được định nghĩa là tình trạng chiều cao của một cá thể cao hơn 2 độ lệch chuẩn so với chiều cao trung bình tương ứng của đối tượng bình thường cùng tuổi và giới tính, trong trường hợp không có nguyên nhân bệnh lý. Đặc điểm nhận diện là tiền sử gia đình có tầm vóc cao và không có các đặc điểm dị hình, giúp phân biệt với các nguyên nhân bệnh lý gây tăng trưởng quá mức. Chúng tôi không khuyến cáo điều trị nội khoa cho hầu hết trẻ có tầm vóc cao theo gia đình (Khuyến cáo 1B), vì có ít bằng chứng về lợi ích tâm lý xã hội và có khả năng gây ra các tác dụng không mong muốn, bao gồm tăng nguy cơ vô sinh. (Xem ‘Tầm vóc cao theo gia đình’ ở dưới.)

Nguyên nhân bệnh lý – Cần cân nhắc khả năng mắc các rối loạn gây tăng trưởng nhanh ở trẻ có HV bất thường (như định nghĩa trên), hoặc ở bất kỳ trẻ nào tăng trưởng nhanh kèm theo các đặc điểm gợi ý rối loạn tiềm ẩn, bao gồm: đặc điểm dị hình, tăng trưởng không cân đối (ví dụ: tay hoặc chân dài so với thân mình), dậy thì sớm hoặc suy tuyến sinh dục, hoặc chậm phát triển (bảng 1). HV bất thường cần được đánh giá ngay cả khi trẻ chưa đạt đến tầm vóc cao.

Các nguyên nhân gây tăng trưởng nhanh bất thường trong thời kỳ nhũ nhi bao gồm đái tháo đường thai kỳ của mẹ, khổng lồ não (hội chứng Sotos) và hội chứng Beckwith-Wiedemann. (Xem ‘Tăng trưởng quá mức trong thời kỳ nhũ nhi’ ở dưới.)

Các nguyên nhân nội tiết gây tăng trưởng nhanh bất thường trong thời kỳ nhi khoa và dậy thì bao gồm dậy thì sớm (bao gồm cả tăng sản thượng thận bẩm sinh gây nam hóa), dư thừa hormone tăng trưởng (bệnh khổng lồ tuyến yên), cường giáp, thiếu hụt hoặc kháng glucocorticoid gia đình. (Xem ‘Tăng trưởng quá mức trong thời kỳ nhi khoa và dậy thì’ ở dưới.)

Các nguyên nhân không do nội tiết gây tăng trưởng nhanh bất thường bao gồm hội chứng Klinefelter và hội chứng Marfan. Béo phì do ngoại sinh thường liên quan đến tốc độ tăng trưởng ở mức cao bình thường và tầm vóc tương đối cao so với tuổi trước khi dậy thì. Tuy nhiên, tuổi xương có thể tăng nhanh khiến chiều cao khi trưởng thành không tăng. Một nhóm bệnh nhân béo phì khởi phát sớm có các biến thể gây bệnh ở thụ thể melanocortin 4 (MC4R) và có xu hướng tầm vóc đặc biệt cao khi còn nhỏ, tình trạng này kéo dài đến tuổi trưởng thành. (Xem ‘Các rối loạn không do nội tiết’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here