TÓM TẮT
Cơ chế bệnh sinh – Viêm giáp mủ cấp tính (ST) do nhiễm khuẩn tuyến giáp. Đây là bệnh lý hiếm gặp nhưng có thể đe dọa tính mạng. Hầu hết bệnh nhân đều có các yếu tố thuận lợi khởi phát. Rò xoang hình lê hiện diện ở tối đa 70% trẻ em mắc viêm giáp mủ cấp. (Xem thêm ‘Cơ chế bệnh sinh’ và ‘Rò xoang hình lê’ ở dưới.)
Vi sinh vật học – Các tác nhân hiếu khí và kỵ khí tùy tiện thường được phân lập nhất trong viêm giáp mủ cấp ở trẻ em là Staphylococcus aureus, Streptococcus pyogenes, Staphylococcus epidermidis và Streptococcus pneumoniae. Các trực khuẩn kỵ khí Gram âm (ví dụ: các loài Prevotella, Porphyromonas và Fusobacterium) ngày càng được ghi nhận là nguyên nhân gây bệnh. Thể bán cấp của viêm giáp mủ cấp có thể do nhiễm mycobacteria hoặc nấm, đặc biệt ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch. (Xem thêm ‘Vi sinh vật học’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Trẻ em thường khởi phát cấp tính với tình trạng đau và sưng nề ấn đau ở vùng cổ trước, tiến triển trong vài ngày đến vài tuần, thường đi kèm sốt và tăng bạch cầu. Nhiễm trùng ưu thế ở thùy trái trong 90% trường hợp, nhưng cũng có thể tổn thương cả hai bên. (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Đánh giá
Xét nghiệm cận lâm sàng – Các xét nghiệm chức năng tuyến giáp thường bình thường trong viêm giáp mủ cấp, nhưng tình trạng suy giáp hoặc cường giáp có thể xuất hiện ở những bệnh nhân có diễn tiến bán cấp. (Xem thêm ‘Xét nghiệm cận lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh nhân nghi ngờ viêm giáp mủ cấp nên được đánh giá bằng siêu âm và X-quang cổ quy ước. Siêu âm giúp đánh giá sự hình thành áp-xe và khả năng lan rộng của nhiễm trùng sang các cấu trúc lân cận. X-quang giúp đánh giá tình trạng chèn ép đường thở do phù nề và có thể phát hiện khí trong mô do vi khuẩn sinh hơi gây ra. (Xem thêm ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Đối với trẻ em viêm giáp mủ cấp tái phát hoặc khu trú bên trái, cần đánh giá khả năng rò xoang hình lê thông qua chụp thực quản cản quang với barium hoặc nội soi thanh quản trực tiếp (Hình 1). Chúng tôi cũng đề xuất đánh giá này cho trẻ em xuất hiện đợt viêm giáp đầu tiên hoặc tổn thương cả hai thùy tuyến giáp. (Xem thêm ‘Đánh giá rò xoang hình lê’ ở dưới.)
Đánh giá áp-xe – Nếu có bằng chứng lâm sàng hoặc siêu âm cho thấy hình thành áp-xe, chúng tôi khuyến cáo chọc hút khối cho mục đích nuôi cấy và tế bào học. Chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm sẽ mang lại hiệu quả cao. Mẫu bệnh phẩm cần được nhuộm và nuôi cấy để tìm vi khuẩn hiếu khí, kỵ khí, nấm và mycobacteria. (Xem thêm ‘Nuôi cấy’ ở dưới.)
Xử trí
Kháng sinh – Tất cả bệnh nhân nghi ngờ viêm giáp mủ cấp cần được điều trị kháng sinh kịp thời. Đối với liệu pháp kinh nghiệm ban đầu, chúng tôi đề nghị phác đồ bao phủ được các vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí trong khoang miệng, bao gồm S. aureus, S. pyogenes, trực khuẩn kỵ khí Gram âm và các loài Peptostreptococcus (Khuyến cáo 2C). Các phác đồ kháng sinh phù hợp bao gồm: dùng đơn độc clindamycin, phối hợp penicillin với thuốc ức chế beta-lactamase, hoặc phối hợp metronidazole với macrolide. (Xem thêm ‘Thuốc kháng khuẩn’ ở dưới.)
Dẫn lưu áp-xe – Trong trường hợp hình thành áp-xe, có thể cần dẫn lưu ngoại khoa. Đối với trẻ em có rò xoang hình lê, chúng tôi đề xuất xóa bỏ đường rò bằng phẫu thuật cắt bỏ hoặc đốt nội soi (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Phẫu thuật’ ở dưới.)
