TÓM TẮT
Định nghĩa – Sốt rét falciparum không biến chứng được định nghĩa là tình trạng nhiễm Plasmodium falciparum có triệu chứng, kết quả xét nghiệm ký sinh trùng dương tính với mật độ ký sinh trùng < 4%, và không có các triệu chứng của sốt rét nặng (bảng 1). (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Lựa chọn thuốc kháng sốt rét
- Tiếp cận chung – Đối với điều trị sốt rét P. falciparum không biến chứng, chúng tôi đề nghị sử dụng liệu pháp phối hợp artemisinin (ACT) (Khuyến cáo 2B). Đối với những bệnh nhân có cân nặng > 65 kg điều trị bằng ACT, chúng tôi đề nghị sử dụng các thuốc khác thay vì artemether-lumefantrine (Khuyến cáo 2C). Liều dùng được tóm tắt trong bảng (bảng 2). (Xem ‘Tiếp cận chung’ và ‘Lựa chọn ACT’ ở dưới.)
- Bệnh nhân đang dự phòng sốt rét – Những bệnh nhân đang sử dụng thuốc dự phòng sốt rét nhưng vẫn tiến triển thành nhiễm sốt rét cần được điều trị bằng một loại thuốc khác. (Xem ‘Lựa chọn thuốc kháng sốt rét’ ở dưới.)
- Sốt rét nhạy với chloroquine – Đối với bệnh nhân nhiễm P. falciparum nhạy với chloroquine tại những nơi không sẵn có ACT, chúng tôi đề nghị điều trị bằng chloroquine hoặc hydroxychloroquine (Khuyến cáo 2B). Liều dùng được tóm tắt trong bảng (bảng 4). (Xem ‘Tiếp cận chung’ và ‘Trường hợp không sẵn có ACT’ ở dưới.)
- Giảm khả năng lây truyền – Để giảm khả năng lây truyền nhiễm P. falciparum đã được điều trị tại các vùng lưu hành có tỷ lệ lây truyền thấp, chúng tôi đề nghị dùng primaquine (liều duy nhất 0,25 mg/kg) vào ngày đầu tiên điều trị cho người lớn không mang thai và trẻ em $\ge 6$ tháng tuổi (Khuyến cáo 2B). Không sử dụng primaquine cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh < 6 tháng tuổi. (Xem ‘Giảm khả năng lây truyền’ ở dưới.)
- Sốt rét kháng artemisinin một phần – Cần xem xét khả năng sốt rét kháng artemisinin một phần ở những cá nhân có yếu tố dịch tễ liên quan (cư trú hoặc đi du lịch đến các vùng đã báo cáo tình trạng kháng thuốc này) có kết quả phết máu dương tính vào ngày thứ 3 của liệu trình điều trị. Phương pháp tiếp cận tối ưu hiện chưa rõ ràng và những trường hợp này nên được quản lý phối hợp với hội chẩn chuyên gia nếu có thể; chúng tôi đề nghị kéo dài thời gian điều trị lên 6 ngày và theo dõi phết máu hàng ngày cho đến khi âm tính (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Sốt rét kháng artemisinin một phần’ ở dưới.)
- Theo dõi sau điều trị – Theo dõi phết máu định kỳ là cần thiết để xác nhận sự sụt giảm mật độ ký sinh trùng. Nhìn chung, mật độ ký sinh trùng thường biến mất trong vòng 48 đến 72 giờ nếu được điều trị thích hợp. (Xem ‘Theo dõi sau điều trị’ ở dưới.)
- Nhiễm tái phát – Nhiễm P. falciparum tái phát có thể do tái phát (thất bại điều trị) hoặc tái nhiễm; hai tình trạng này thường khó phân biệt. (Xem ‘Nhiễm tái phát’ ở dưới.)
Nhìn chung, thất bại điều trị thường được giả định khi tình trạng sốt và mật độ ký sinh trùng không thuyên giảm (hoặc xuất hiện trở lại) trong vòng 28 ngày sau điều trị sốt rét không biến chứng; đối với những bệnh nhân này, chúng tôi đề nghị điều trị bằng một ACT thay thế có hiệu quả tại địa phương (Khuyến cáo 2C).
Ngược lại, tái nhiễm thường được giả định khi xuất hiện sốt và mật độ ký sinh trùng sau hơn 28 ngày kể từ khi điều trị sốt rét không biến chứng; đối với những bệnh nhân này, chúng tôi đề nghị điều trị bằng một ACT lựa chọn hàng đầu (Khuyến cáo 2C).
- Tái phát (Recrudescence) – Đối với bệnh nhân tái phát ngoài vùng lưu hành, nên điều trị bằng phác đồ thuốc kháng sốt rét thay thế để phòng trường hợp kháng thuốc với phác đồ ban đầu. Ngoài ra, cần đánh giá khả năng đồng nhiễm Plasmodium vivax hoặc Plasmodium ovale, vì các loài này có thể gây tái phát do giai đoạn thể ngủ (hypnozoite). Việc xác định đồng nhiễm các loài này đòi hỏi phải điều trị giai đoạn vô tính cũng như dùng primaquine hoặc tafenoquine để tiêu diệt thể ngủ. (Xem ‘Ngoài vùng lưu hành’ ở dưới, “Sốt rét không do P. falciparum: P. vivax, P. ovale, và P. malariae” và “Sốt rét không do P. falciparum: Plasmodium knowlesi”.)
