Điều trị sốt rét ác tính

Xuất bản:

Cập nhật:

TÓM TẮT

Định nghĩa sốt rét ác tính – Sốt rét ác tính là tình trạng sốt rét cấp tính đi kèm với các dấu hiệu suy đa cơ quan nghiêm trọng và/hoặc mật độ ký sinh trùng trong máu cao (bảng 1). Tại các vùng lưu hành, trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai có nguy cơ cao tiến triển thành sốt rét ác tính. Trẻ lớn và người lớn thường phát triển miễn dịch một phần sau nhiều lần nhiễm bệnh, do đó nguy cơ mắc bệnh nặng tương đối thấp. Ngược lại, khách du lịch đến vùng lưu hành thường chưa từng tiếp xúc với ký sinh trùng sốt rét nên có nguy cơ cao tiến triển nặng. (Xem ‘Định nghĩa’ ở dưới.)

Điều trị đặc hiệu bằng thuốc kháng sốt rét

Điều trị trước khi chuyển tuyến – Đối với bệnh nhân tại các vùng lưu hành nông thôn nghi ngờ sốt rét ác tính mà chưa thể bắt đầu liệu pháp tiêm truyền ngay lập tức, chúng tôi khuyến cáo thực hiện điều trị trước khi chuyển tuyến (Khuyến cáo 1A). (Xem ‘Điều trị trước khi chuyển tuyến tại vùng lưu hành nông thôn’ ở dưới.)

Bắt đầu điều trị – Điều trị ban đầu cho sốt rét ác tính là liệu pháp tiêm truyền. (Xem ‘Bắt đầu điều trị’ ở dưới.)

Trường hợp không có kháng artemisinin – Tại các khu vực không có tình trạng kháng artemisinin, chúng tôi đề nghị sử dụng artesunate tiêm tĩnh mạch (ở những nơi có sẵn artesunate tiêm tĩnh mạch chất lượng đảm bảo) thay vì quinine tiêm tĩnh mạch (bảng 5) (Khuyến cáo 2A). Phương pháp này được áp dụng cho cả người lớn và trẻ em (bao gồm trẻ nhũ nhi, phụ nữ mang thai ở tất cả các tam cá nguyệt và phụ nữ đang cho con bú). (Xem ‘Tiếp cận chung’ ở dưới.)

Trường hợp có kháng artemisinin – Tại các khu vực đã ghi nhận tình trạng kháng artemisinin, ví dụ như Đông Nam Á, chúng tôi đề nghị phối hợp sử dụng liều đầy đủ artesunate tiêm và quinine tiêm (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Các vùng kháng artemisinin’ ở dưới.)

Hoàn tất liệu trình – Sau khi điều trị bằng đường tiêm truyền (ít nhất 24 giờ, cho đến khi bệnh nhân có thể uống được thuốc và mật độ ký sinh trùng trong máu ≤ 1% đối với bệnh nhân không có miễn dịch), cần chuyển sang phác đồ điều trị đường uống. Chúng tôi đề nghị sử dụng phác đồ phối hợp artemisinin (ACT) (Khuyến cáo 2B); nếu không có ACT đường uống, có thể sử dụng phác đồ thay thế. Các phác đồ và liều lượng được tóm tắt trong bảng (bảng 6). (Xem ‘Hoàn tất liệu trình’ ở dưới.)

Dự phòng hóa trị sốt rét sau xuất viện (PDMC) – Đối với trẻ dưới 5 tuổi nhập viện vì thiếu máu nặng tại các vùng có tỷ lệ truyền bệnh sốt rét từ trung bình đến cao (trên 250 ca sốt rét do P. falciparum trên 1000 dân/năm), chúng tôi đề nghị thực hiện PDMC (Khuyến cáo 2C). Việc lựa chọn thuốc, liều dùng và thời gian dự phòng sẽ tuân theo hướng dẫn của khu vực. (Xem ‘Vai trò của dự phòng hóa trị sốt rét sau xuất viện’ ở dưới.)

Điều trị sốt rét trong thai kỳ – Để điều trị sốt rét ác tính do P. falciparum trong thai kỳ ở bất kỳ tam cá nguyệt nào, chúng tôi đề nghị sử dụng artesunate tiêm tĩnh mạch (Khuyến cáo 2B). Trong số các thuốc thay thế, artemether được ưu tiên hơn quinine. Sau khi dùng liệu pháp tiêm truyền (ít nhất 24 giờ và cho đến khi bệnh nhân có thể uống được thuốc), cần chuyển sang phác đồ đường uống. Ưu tiên sử dụng ACT; nếu không có ACT đường uống, có thể dùng phác đồ thay thế. Chi tiết phác đồ và liều lượng được tóm tắt trong bảng (bảng 7). (Xem ‘Bệnh nhân mang thai’ ở dưới.)

Liệu pháp kháng sinh – Đối với bệnh nhân sốt rét ác tính, cần thực hiện cấy máu; sau đó, chúng tôi đề nghị điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm đối với trực khuẩn gram âm (bao gồm Salmonella spp và các vi khuẩn đường ruột khác) (Khuyến cáo 2C), ví dụ như ceftriaxone. (Xem ‘Liệu pháp kháng sinh’ ở dưới.)

Các khía cạnh quản lý khác – Chăm sóc hỗ trợ đóng vai trò then chốt đối với bệnh nhân sốt rét ác tính vì tử vong có thể xảy ra chỉ trong vài giờ sau khi nhập viện. Việc đánh giá nhanh và bắt đầu điều trị kháng sốt rét kịp thời là thiết yếu, đồng thời phối hợp chăm sóc hỗ trợ để xử trí các biến chứng đe dọa tính mạng.

Tình trạng hô hấp – Các biến chứng phổi trong sốt rét ác tính bao gồm phù phổi, hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS) và nhiễm trùng đường hô hấp dưới. Các biện pháp xử trí có thể từ hỗ trợ oxy đến thông khí cơ học. (Xem ‘Tình trạng hô hấp’ ở dưới.)

Tình trạng thần kinh – Các biến chứng thần kinh bao gồm rối loạn ý thức, co giật và hôn mê. Đánh giá lâm sàng bao gồm khám thực thể toàn diện, tính điểm hôn mê Blantyre (bảng 2), soi đáy mắt và chọc dò thắt lưng. Co giật cần được xử trí theo hướng dẫn nêu trên. (Xem ‘Tình trạng thần kinh’ ở dưới.)

Thiếu máu – Các biến chứng huyết học bao gồm thiếu máu nặng và rối loạn đông máu. Quyết định truyền máu cần dựa trên tình trạng cụ thể của từng bệnh nhân; nhìn chung, chúng tôi chỉ định truyền máu cho trẻ em có nồng độ hemoglobin < 4 g/dL. (Xem ‘Truyền máu’ ở dưới.)

Hạ đường huyết – Hạ đường huyết là một biến chứng thường gặp và là dấu hiệu của bệnh nặng; cần nghi ngờ tình trạng này ở bất kỳ bệnh nhân nào có diễn tiến xấu đột ngột. Ngưỡng can thiệp ở trẻ dưới 5 tuổi là < 3 mmol/L (< 54 mg/dL); ở trẻ từ 5 tuổi trở lên và người lớn là < 2,2 mmol/L (< 40 mg/dL).

Bệnh nhân hạ đường huyết cần được thiết lập đường truyền tĩnh mạch nhanh chóng, sau đó tiêm bolus dextrose ban đầu (0,25 g/kg cân nặng), thường đạt được bằng cách dùng 2,5 mL/kg dung dịch dextrose 10%. Cần đo lại đường huyết sau 15 phút và tiếp tục tiêm bolus cho đến khi đường huyết trở về mức bình thường. (Xem ‘Hạ đường huyết’ ở dưới.)

Quản lý dịch truyền – Tình trạng thiếu dịch cần được đánh giá trên từng bệnh nhân. Người lớn mắc sốt rét có vẻ nhạy cảm với tình trạng quá tải dịch hơn trẻ em; ranh giới giữa thiếu dịch (nguy cơ suy thận) và quá tải dịch (nguy cơ phù phổi và phù não) là rất hẹp. (Xem ‘Quản lý dịch truyền’ ở dưới.)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here