TÓM TẮT
- Tuổi tác – Tuổi vẫn là yếu tố nguy cơ mạnh nhất đối với sa sút trí tuệ, đặc biệt là bệnh Alzheimer (AD), với tỷ lệ mắc tăng theo cấp số nhân sau mỗi thập kỷ. (Xem ‘Tuổi’ ở dưới.)
- Yếu tố nguy cơ di truyền – Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong cả thể khởi phát sớm và khởi phát muộn của bệnh Alzheimer, cũng như các bệnh thoái hóa thần kinh khác như sa sút trí tuệ thùy trán-thái dương (FTD). (Xem ‘Yếu tố di truyền’ ở dưới.)
- Đột quỵ – Cả đột quỵ nhồi máu não và xuất huyết não đều liên quan đến việc tăng nguy cơ sa sút trí tuệ. Tái phát đột quỵ làm tăng thêm nguy cơ này. (Xem ‘Đột quỵ nhồi máu não hoặc xuất huyết não’ ở dưới.)
- Yếu tố nguy cơ mạch máu – Đái tháo đường, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, béo phì và hút thuốc lá có liên quan đến suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ mọi nguyên nhân, cũng như liên quan riêng biệt đến bệnh Alzheimer và sa sút trí tuệ mạch máu.
Mối liên hệ này mạnh nhất khi các yếu tố nguy cơ mạch máu được ghi nhận ở độ tuổi trung niên thay vì tuổi già, và khi có sự hiện diện của nhiều yếu tố cùng lúc. (Xem ‘Yếu tố nguy cơ chuyển hóa tim mạch’ ở dưới.)
- Yếu tố nguy cơ lối sống – Bằng chứng từ các nghiên cứu quan sát cho thấy trình độ học vấn thấp, ít vận động thể chất và cô lập xã hội đều liên quan đến việc tăng nguy cơ suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ.
Một giả thuyết cho rằng trình độ học vấn cao, cùng với các hoạt động nhận thức và xã hội, tạo ra một “dự trữ nhận thức” giúp giảm thiểu tác động của quá trình thoái hóa thần kinh lên chức năng nhận thức. (Xem ‘Lối sống và hoạt động’ ở dưới.)
- Các yếu tố nguy cơ khác – Các yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ bao gồm rung nhĩ, lạm dụng rượu, bệnh thận mạn và các bệnh lý nội khoa khác, trầm cảm, chấn thương đầu, mất thính lực, mất thị lực không được điều trị, tiếp xúc với một số loại thuốc và độc chất, và hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA). (Xem ‘Các yếu tố khác’ ở dưới.)
